Từ Xưởng Quân khí đến chiến trường Điện Biên
Nguyễn Xuân Ninh sinh năm 1934, tại khu Lạc Viên, thành phố Hải Phòng. Do chiến tranh và hoàn cảnh gia đình, năm 13 tuổi, dù đang học dở tiểu học, Ninh đã tham gia hoạt động tại Xưởng Quân khí Phan Thanh đóng tại Thái Bình...
Nguyễn Xuân Ninh sinh năm 1934, tại khu Lạc Viên, thành phố Hải Phòng. Do chiến tranh và hoàn cảnh gia đình, năm 13 tuổi, dù đang học dở tiểu học, Ninh đã tham gia hoạt động tại Xưởng Quân khí Phan Thanh (mật danh của xưởng) đóng tại Thái Bình. Bước đầu, Ninh làm liên lạc, rồi văn thư, sau mới làm công nhân sản xuất thuốc nổ và một số vũ khí thô sơ như lựu đạn, mìn… Để bảo đảm bí mật hoặc do địch càn quét, đánh phá nên xưởng phải cơ động luôn, nay chỗ này, mai chỗ khác; xa nhất là vào tới miền tây tỉnh Thanh Hóa.
|
Nguyễn Xuân Ninh ngày đi Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh do nhân vật cung cấp. |
Sang năm 1953, theo lời kêu gọi của Đảng, những thanh niên hăng hái, khỏe mạnh của xưởng, trong đó có Ninh chuyển sang bộ đội, cầm súng, trực tiếp chiến đấu với quân thù. Trong quá trình công tác tại xưởng, cũng như khi vào quân ngũ, Ninh rất chịu khó viết nhật ký ghi lại những suy tư, cảm xúc của mình. Những dòng chữ mộc mạc, giản dị nhưng chân thực và giàu tình cảm. Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng giới thiệu một phần của cuốn nhật ký, đoạn Nguyễn Xuân Ninh bắt đầu xa gia đình về làm tại Xưởng Quân khí đến ngày tham gia trận mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ...
|
Bìa cuốn nhật ký. |
Ngày 12-4-1947
Hôm nay, mình lên đường, xa gia đình, xa bố mẹ, xa các anh, các chị. Lúc tiễn đưa, mẹ dặn tôi nhiều điều. Đúng thôi vì tôi mới 13 tuổi, còn nhỏ quá mà đã phải dấn thân vào đời, lại chỉ có một mình lủi thủi trên đường; không có ai cùng trang lứa làm bạn…
Mới đầu mùa hè, trời đã nóng như thiêu, như đốt.
Lầm lụi trên quãng đường dài gần 20 cây số, tôi theo chị tôi vào Đông Nha, Vĩnh Bảo để xin vào Công binh xưởng Phan Thanh (mật danh) của Quân khu 3, đóng tại Thái Bình. Ở đây, công nhân hầu hết các bác, các anh là người làng. Đồ ăn, thức uống của họ không đến nỗi nào.
Lần đầu xa nhà, tôi nhớ mẹ vô cùng...
Ngày 15-4-1947
Ngày chính thức vào xưởng.
Bước đầu đi thăm các ban. Nào tiện nguội, nào rèn đúc, nào thuốc nổ... tôi thấy ngợp quá, vừa phấn khởi, vừa sung sướng.
Tuy lần đầu tiên sống tập thể nhưng nhờ có chú Long dìu dắt, lại gần anh Liên, tôi cố gắng giữ cái nết của một cậu bé, ngoan hiền. Tuy còn non nớt nhưng cũng đã biết suy nghĩ đôi chút...
Ngày 15-5-1947
Công việc tuy nhàn nhưng phụ thuộc nhiều nên ngay buổi làm đầu tiên, tôi đã nản... Được tin mẹ tôi vẫn còn yếu, không làm gì được; sau mấy trận ốm, mẹ bị tổn thất nặng nề về thể xác; quần áo không được lành lặn; tiền nong lại hết, tôi không biết làm gì cho mẹ vì lương còn quá ít...
Xưởng lớn mạnh dần; đã sản xuất được một số ít vũ khí thô sơ.
Phi cơ địch bắt đầu hoạt động mạnh. Chúng lồng lộn ném bom các làng lân cận. Những anh em bị thương được cáng về nằm la liệt ở Hiền An, Hạ An…
Tháng 8-1947
Xưởng chuyển vào Hoành Sơn.
Tôi vẫn là cậu bé làm liên lạc; quần áo vẫn là chiếc áo “vét” vá tay, chiếc quần “soóc” bằng đũi vá mông. Tuy tuổi còn ít nhưng tôi đã biết suy tính tới mọi việc. Sống ở đây, tôi cảm thấy khoan khoái, dễ chịu. Các bác già mến, mấy bạn trẻ cũng hiểu nhau. Công việc tiến bộ trông thấy. Các báo cáo hàng kỳ, tôi đã làm được. Bản thân cũng cảm thấy không bị ràng buộc như trước đây mấy tháng…
Tháng 2-1948
Ở xưởng chẳng khác gì ở gần tiền duyên. Quân Pháp lúc nào cũng lăm le đổ bộ lên từ ngoài biển nên mỗi khi kết thúc giờ làm việc trong ngày, máy móc, dụng cụ, chúng tôi xếp đâu vào đấy, chỉ mất 30 phút là xong, sẵn sàng di chuyển được ngay.
Muỗi như ong. Màn không có. Trời thì oi bức. Vậy mà khi ngủ, chúng tôi vẫn phải đóng kín cửa, đốt lửa hun muỗi. Ốm, thuốc men không có. Bệnh tê phù phát triển quá nhanh. 50% công nhân bị mắc. Tử vong gần 30 người!...
Tháng 8-1948
Mỗi lần xưởng di chuyển là một lần vất vả. Cái bàn băng máy tiện, 16 người khiêng mới nổi; nhũng nhẵng trên vai; đưa xuống thuyền, rồi lại chuyển lên; đi hàng mấy cây số nữa mới đến nơi tập kết… Mệt nhưng mà vui.
Tôi đã thấy mình lớn dần lên trong kháng chiến, trong gian khổ. Chiếc áo sơ-mi xanh. Chiếc quần “soóc” vá nhiều mụn đủ các màu. Thêm bộ quần áo nâu làm cho tôi có phần chững chạc. Không khí mới mỗi ngày thổi mạnh vào óc tôi… Mười lăm tuổi-lứa tuổi còn niên thiếu nên việc gia nhập Đảng với tôi còn xa vời nhưng tôi cũng bắt đầu có hiểu biết về Đảng…
Tháng 2-1949
Công việc hằng ngày của chúng tôi vô cùng nguy hiểm. Không may, “đoành” một cái là mất mạng. Thế mà chẳng ai nghĩ đến tình huống ấy. Mọi người vẫn say sưa với nhiệm vụ của mình. Toàn là cánh trẻ nên vui nhộn suốt ngày. Ai bảo trong chiến tranh gian khổ không có hoài bão lớn lao, là không đúng…
Tháng 4-1950
Vào một ngày giữa tháng, giặc Pháp mở trận càn quy mô chưa từng thấy. Trời mới gần rạng đông, bọn chúng đã mò đến. Đúng lúc mọi người tỉnh giấc, chúng đã bao vây kín làng..
Súng đại liên của chúng từ trên máy bay khạc đạn xuống liên tục từng tràng, từng tràng. Còn đại bác thì nã từng loạt, từng loạt ùng oàng không dứt.
Lửa cháy! Khói bốc lên nghi ngút, che kín cả bầu trời, làng mạc. Bộ đội, nhân dân chết nằm ngổn ngang khắp các ngả đường, ngõ xóm… Giặc đông như kiến. Ta hy sinh nhiều.
Trời ngả về chiều, quân Pháp mới rút khỏi làng.
Mọi người trở lại trong cảnh điêu tàn; thôn xóm tan hoang.
Nhà vẫn cháy. Lửa không ai dập…
Thật may là tôi chạy thoát khỏi trận càn khốc liệt này của địch. Sau 3 ngày, quay lại, thấy anh Thuận vẫn nằm ở đấy, tôi vào chợ mua thuốc, bông, băng, lẻn vào ruộng ngô, băng bó cho anh, rồi vận động bà con, thanh niên đưa anh về khu “căn cứ du kích” cứu chữa…
Tháng 3-1953
…
Những thanh niên hăng hái, khỏe mạnh của xưởng theo lời kêu gọi của Đảng, đều chuyển sang bộ đội, trực tiếp cầm súng chiến đấu. Tôi vô cùng sung sướng, nằm trong số thanh niên được tuyển đi lần này. Thay bộ quần áo công nhân bằng bộ quân phục tuy đơn sơ nhưng thấy mình chững chạc hẳn lên…
Chúng tôi hành quân không biết về phương nào; mãi sau mới biết là vùng rừng núi Hòa Bình. Lộn đi, lộn lại; quanh quẩn đến Phú Thọ lúc nào không hay. Người nào cũng gầy đi vì chưa quen hành quân xa, mang vác nặng…
Không gì vui bằng chỉnh quân xong được đi chiến dịch; cảm giác lạ thường, rất khó tả… Chúng tôi tíu tít chuẩn bị. Nào khâu ba lô, giày, tất. Nào đan mũ, làm áo tơi, rồi lau súng đạn…
Tâm tư mỗi người mỗi khác. Người thì nhớ vợ. Người thì nhớ bố mẹ, anh chị em. Và cả nhớ bạn bè. Nói chung, lính còn trẻ măng, chưa mấy người có vợ nên chuyện gia đình không nặng nề lắm…
Tháng 10-1953
… Hôm nay đi, ai sẽ không trở về?
Hãy hy vọng vì chúng ta còn có nhiệm vụ giải phóng quê hương. Nhất định chúng ta sẽ trở lại. Ai cũng ước mơ khi đồng bằng phì nhiêu sạch bóng quân thù. Lúc ấy, dòng người cuồn cuộn, nườm nượp đổ về như thác đổ…
Ôi, hạnh phúc biết bao!
Ngày 13-3-1954
Mọi ngày, pháo địch ra sức hoạt động. Thế mà hôm nay, chúng tôi không nghe thấy tiếng “u… ú…” ngang tai. Có lẽ…
Pháo của ta bắt đầu công đồn. Tiếng “đề-pa” ở gần nghe mà như nở từng khúc ruột. Tiếng nổ ở xa "ùng oàng” nối tiếp nhau như giã gạo.
Súng cao xạ cũng đồng thời lên tiếng…
Trên không, máy bay địch “co cụm” lại, không còn điên cuồng, lồng lộn, quần thảo nữa.
- Rơi rồi! Rơi rồi!
Chúng tôi reo lên khi một chiếc Hen-cát phụt khói, lao thẳng xuống đất…





