TUỔI ẤU THƠ
Là một đồng đội của Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Công Huy kể lại những năm tháng của người anh hùng trong cuộc đọ sức với không lực Mỹ .
Anh sinh vào năm 1936. Gia đình anh là gia đình đông con, nhưng bị mất mấy “đốt” nên chỉ còn 6 anh em: anh Nguyễn Văn Tuần (anh Ba), chị Nguyễn Thị Phòng (chị Năm), chị Nguyễn Thị Hoa (chị Sáu), anh - Nguyễn Hồng Nhị (anh Bảy), chị Nguyễn Thị Khê (chị Tám) và em út là Nguyễn Văn Nhơn.
Bố anh là người được ông bà cho ăn học, có bằng cấp và giỏi chữ nho. ông thường viết giúp dân làng những khi cần có đơn kiện tụng. Chính quyền phong kiến muốn lợi dụng ông, vời ông ra làm việc cho bọn chúng, nhưng ông không hợp tác, kiên quyết chối từ. Chính vì vậy, chúng tìm cách để hãm hại ông. Chúng vu cho ông tội khai man, trốn thuế và bắt trói ông dẫn đi đồng thời bắt phạt vạ, mặc cho vợ con ông khóc lóc van xin. Vậy là trong nhà có cái gì có thể bán được, có thể cầm cố được là phải cho “đội nón ra đi” để có đủ tiền nộp vạ, cốt để cho ông được tha. Anh Hồng Nhị còn bé, thương cha lắm, mà không biết làm thế nào, chỉ biết khóc ròng và vô cùng căm giận lũ quan lại phong kiến. Cha của anh thường nói:
- Các con lớn lên, đời phải khác, đừng lặp lại như đời của Cha, Mẹ - vừa khổ cực, vừa bị người ta ức hiếp...
Chạy đủ tiền nộp vạ, đưa được ông về rồi nhưng làng vẫn bắt ông phải ra điếm canh, canh gác trong vòng một tháng. Thời đó, làng quê Việt Nam làng nào cũng có điếm canh để canh chừng sự yên tình cho làng quê. Hễ có bất cứ động tình gì là phải khua mõ để báo động cho dân làng biết. Mà đã ra ngoài điếm canh để canh thì đêm không được ngủ, phải thức trắng để theo dõi mọi động tĩnh, để còn báo động, ví như có người lạ lẻn vào làng hoặc có trộm cướp đến chẳng hạn... là phải khua mõ ngay tức thì.
Vào giai đoạn đó cũng từng có một số tù cộng sản ở nhà tù Kon-tum vượt ngục, theo đường đi Quảng Ngãi để lên chiến khu Ba-Tơ nhập vào đội quân du kích. Các điếm canh được tăng thêm người để canh chừng tù cộng sản vượt ngục.
Anh Nguyễn Hồng Nhị khi ấy chưa đầy 10 tuổi, nhưng anh đã được giao nhiệm vụ cùng với tất cả các chị làm tất cả mọi việc nhà để giúp cho anh Ba (anh Tuần) được đi học. Anh là con trưởng trong gia đình, ngày anh đi học chữ, đêm về lại dạy lại cho các em những gì mình từng học được trong ngày. Anh Nhị biết chữ cũng là nhờ sự dạy dỗ của anh Tuân.
Thấy Cha đi làm quần quật suốt ngày, vừa mệt, vừa đói, vừa không được nghỉ ngơi, tối mịt mới về đến nhà, chẳng kịp ăn uống gì, lại phải ra điếm canh thì anh thương Cha lắm. Anh nói với Cha:
- Cha để cho con ra điếm canh thay cho Cha để Cha ở nhà nghỉ nhé. Con thấy Cha mệt lắm rồi!
- Con chỉ ra điếm ngủ với các bác thôi, đừng tham gia đánh mõ, con ạ! Cha gật đầu đồng ý và căn dặn anh.
Anh nghe lời Cha. Có những đêm các người gác ở điếm canh khua mõ ầm ỹ, nhưng anh giả vờ ngủ say. Đấy là những đêm có tù cộng sản vượt ngục tìm đường lên chiến khu.
Tình hình kinh tê gia đình ngày một khó khăn. Thiên tai, địch họa hoành hành liên tục. Hết hạn hán lại đến lũ lụt. Hết thực dân Pháp lại đến phát xít Nhật đè nén, áp bức, bóc lột. Nghèo đói càng thêm nghèo đói. Quẫn bách đến cùng cực. Không biết tìm đâu ra lối thoát!
Trong lúc khốn quẫn ấy, Cha anh tính cách bỏ quê đi vào Đồng Nai để làm phu đồn điền cao su với hy vọng may ra kiếm được chút tiền gửi về cho vợ con ở nhà. Vậy là Cha đi biền biệt, không tin tức, tiền ở nhà cũng chẳng nhận được một xu, một cắc nào. Biết bao nhiêu nỗi lo âu ập đến.
Khi đi trai tráng, khi về bủng beo!”
Câu ca ấy đã tổng kết về nỗi khổ, nỗi cực nhọc, bị ngược đãi của những người phu đồn điền cao su như vậy. Khi Cha đi, Cha đâu có được béo tốt, khỏe mạnh, mà đã ốm yếu, loẻo khoẻo lắm rồi. Liệu có còn giữ được mạng sống cho mình hay là “thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng” rồi?
Cả nhà khắc khoải mong chờ từng ngày từng giờ hình bóng của Cha. Rồi ơn Trời! Cha cũng đã về! Cha về với bộ quần áo rách bươm như tổ đỉa...
Dầu sao thì Cha cũng đã về rồi! Thật mừng mừng, tủi tủi...
Cha kể:
- Không thể nào chịu đựng nổi cái cảnh người công nhân cao su bị bóc lột đến tận xương tận tủy, bị đánh đập dã man, bị ức hiếp đủ kiểu, bị ăn quỵt cả tiền công... Bọn chủ đồn điền là bọn thú đội lốt người!
- Thôi, Cha bọn bay dẫn được xác về đến đây là tui mừng , tui quý hơn bắt được bạc, được vàng rồi! Không phải bỏ lại xác ở gốc cao su là may mắn lắm rồi! - Mẹ nói.
Mấy anh chị em thương Cha quá. Cha gày yếu đi rất nhiều. Không ai bảo ai, anh chị em đều tích cực đi làm thêm đủ mọi việc, cốt để san sẻ bớt được phần nào khó nhọc, cực khổ cho Cha.
Bên ngoại anh rất thương gia đình anh, nhưng thực ra ngoại cũng gặp khó khăn chẳng kém, chỉ có thể nuôi giúp được một trong số mấy chị em mà thôi.
Cha Mẹ anh chọn lựa và gửi anh sang cho ông bà ngoại nuôi và cho anh học thêm nghề mộc. Nghề mộc đúng là cần có đức tính kiên trì, tỉ mỉ, khéo tay. Tôi cũng đã từng đi học nghề mộc nên tôi biết chút ít, cũng đã từng phải đứng, chân đặt lên bàn xẻ đến cứng đờ để xẻ gỗ - kiểu xẻ lao. Việc cưa xẻ phải kéo đều tay, đẩy đều tay, không được chệch vết mực (mà người ta vẫn nói đùa với nhau là không để “chó liếm mực”!), rồi học đục, học bào, đặc biệt cách bào khi đến mắt gỗ lại phải đổi chiều ra làm sao. Rồi còn chuyện mài đục, mài bào, rửa cưa... nhất là mài lưỡi bào làm sao không được mòn tù ở hai cạnh lưỡi bào, mà phải sắc cạo râu được thì mới đạt yêu càu. Khó lắm! Không thể ẩu được! Lại càng không thể “sáng mài cưa, trưa mài đục, chiều giục ăn”... Kiểu ấy mất nghề là cái chắc!
Nghề mộc bây giờ từ cưa, bào, cắt mộng... tất cả đều có máy hết, nhàn hơn ngày xưa nhiều.
Anh đã được ông ngoại và các cậu hướng dẫn rất tỉ mỉ, chu đáo. Cũng trong thời gian anh ở bên ngoại, anh đã được tiếp xúc với nhiều người, nhiều thành phần và bước đầu đã tiếp xúc với cách mạng. Anh được nghe nhiều điều mới lạ, thú vị với những cụm từ cũng rất mới lạ như: cách mạng, khởi nghĩa, độc lập, bình đẳng... Các cậu của anh và anh thích nhất từ cách mạng. Cách mạng sẽ được đổi đời, người cày sẽ có ruộng, sẽ không bị bóc lột, áp bức, sẽ được tự do...
Ban ngày thì các cậu đi làm, nhưng ban đêm thì không biết các cậu đi đâu, làm gì... Anh đòi đi theo, các cậu không cho đi. Mãi sau này mới biết là các cậu đi họp đoàn thể để chuẩn bị tham gia khởi nghĩa.
Nghe tin bà nội bị bệnh, anh Nhị xin phép ông bà ngoại rồi chạy một mạch về nhà thăm bà. Thăm bà xong, anh cùng các chị đi đăng tên để gia nhập Đội thiếu nhi, để được tham gia biểu tình. Vậy là cách mạng sắp về rồi, sắp được đổi đời rồi!
Cách mạng về như một luồng gió mới mang đến luồng sinh khí mới. Vạn vật như được rũ bỏ tất cả những gì bẩn thỉu, bụi bậm bám trên mình. Tất cả trở nên tươi trẻ, tràn đầy sức sống. Chính quyền phong kiến, thực dân từng cai trị xứ Vũ Sơn - Bình Đê hàng chục thập kỷ nay đã bị đổ sập tan tành. Tiếng trống, tiếng reo hò của dòng người biểu tình vang dội khắp đất trời. Cờ đỏ sao vàng tung bay rực rỡ khắp xóm thôn, cả nhà anh, cả làng thôn Hy Văn nhộn nhịp, tưng bừng suốt ngày đêm. Cậu bé Hồng Nhị chạy nhảy tung tăng khắp xóm thôn. Chưa bao giờ cậu được vui như thế. Một niềm vui khôn tả.
Rồi gia đình được chia ruộng. Trước cách mạng, gia đình không có lấy một “tấc đất cắm dùi”, nay được chia 5 sào ruộng. Đấy là niềm vui vô bờ mà trước kia dù có trong mơ cũng không thể nào nghĩ đến. Cách mạng về đã cứu sống gia đình, cứu sống bao người dân xứ Vũ Sơn.
Vốn ông ngoại làm nghề mộc, ông đóng cho cày, bừa và tậu hẳn cho một con bò (bằng tiền tiết kiệm, chắt chiu bao nhiêu năm của ông) để gia đình anh cày cấy. Còn niềm vui nào hơn! Còn niềm hạnh phúc nào hơn! cả mấy anh em đồng loạt đi hoạt động cách mạng: anh Ba làm chính trị viên xã đội dân quân, chị Năm đi làm giao thông, chị Sáu là thư ký hội phụ nữ xã, anh Hồng Nhị làm phân đoàn trưởng thiếu nhi...
Lời ca tiếng hát luôn vang khắp thôn xóm, như “Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc...”, “Anh em ta trong đoàn quân du kích, cùng vác súng lên nào...” rồi “Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường...” khơi dậy lòng yêu nước thương nòi, rèn ý chí cách mạng kiên cường... đến tận bây giờ anh vẫn nhớ như in, như mọi việc vừa xảy ra ngày hôm qua vậy.
Điều kiện kinh tế gia đình khấm khá lên nhiều, nhưng Cha Mẹ vẫn luôn nghiêm khắc răn dạy các con phải đi làm cách mạng cho giỏi và làm việc nhà cũng phải giỏi. Anh chị em đều nhìn nhau tự động sắp xếp công việc, răm rắp đâu vào đấy. Mọi người trong làng trong xứ đều nể trọng hai ông bà, coi ông bà là tấm gương sáng để mọi người noi theo, cả gia đình bên nội và bên ngoại của anh rất có uy tín trong xứ. Ông là người Cha nghiêm khắc nhưng độ lượng, bao dung. Bà là người Mẹ hiền từ, nhân hậu, chăm lo cho chồng con hết mình, không hề kêu ca phàn nàn khi gặp khó khăn, không quát mắng con cái bao giờ. Sự mẫu mực của người Cha, sự nhân từ của người Mẹ đã giúp cho các anh chị em của anh phương trưởng, đứng vũng trong cuộc sống.
Niềm vui đến với xóm thôn chưa được bao lâu thì những khó khăn, gian khổ lại ập đến. Một lần nữa, Pháp lại trở lại gây hấn, xâm lược nước ta. Chiến sự xảy ra khắp nơi, súng đạn ì ầm, nổ chát chúa suốt ngày. Làng mạc ven biển bị đốt cháy, chiếc đầu máy xe lửa trong hầm xe lửa ở đèo Bình Đô cũng bị chúng thiêu cháy...
Toàn dân lại đứng dậy kháng chiến theo lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch: “ Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ...”. Tiếng bom cảm tử của Ngô Mây chặn địch trên đường 19 từ Tây Nguyên xuống Bình Định đã dấy lên khí thế sục sôi của tuổi trẻ tham gia chiến đấu trả thù cho Ngô Mây.
Anh đã xin phép gia đình và đoàn thể để được gia nhập Vệ Quốc Đoàn.
Vậy là cuộc đời của cậu bé Hồng Nhị đã bước sang bước ngoặt mới, sang một trang mới. Cuộc sống xa gia đình và ở lứa tuổi 16 -17, không biết những gì sẽ chờ đón ở phía trước, và rồi anh có vượt được qua hay không.


