TƯỞNG NHỚ CÁC ANH D3 MẶT TRẬN 44 QUẢNG ĐÀ
Đã 52 năm trôi qua, nhưng ngày ấy - Cuộc chiến ác liệt 21 ngày đêm diễn ra tại vùng B Điện Bàn (Điện Thọ, Điện Phước, Điện An, Điện Hòa) giữa trên 7.000 quân Mỹ, chư hầu với một Tiểu đoàn Quân Giải phóng Tiểu đoàn 3 Mặt trận 44 Quảng Đà, vẫn luôn hiện lên trong tâm trí tôi!
Một cuộc chiến không cân sức nhưng hết sức kiên cường, anh dũng của Tiểu đoàn 3 (D3) diễn ra từ ngày 20/11-10/12/1968 mà bây giờ nhắc lại thường được gọi là “Cuộc chiến 21 ngày đêm”.
Sáng 20/11/1968, như mọi ngày, tất cả chúng tôi (Cơ quan văn phòng và Ban tuyên huấn Huyện ủy Điện Bàn) đang trong tư thế chống càn (chống địch càn quét) thì được tin có một trung đoàn Mỹ từ đồn Bồ Bồ càn xuống xã Điện thọ. Các anh lãnh đạo lùi xuống thôn Châu Lâu và phân công tôi cùng chị Trần Thị Trung (Cán Bộ Ban tuyên huấn) ở lại rúc công sự tránh địch. Lúc này các xã Điện Thọ, Điện Phước, Điện An, Điện Hòa địch đã xúc tát sạch dân, chỉ còn lại cán bộ, du kích và bộ đội. Xóm làng không còn nhà cửa, mọi sinh hoạt đều chuyển xuống hầm.
Sau một ngày rúc công sự, nghe tiếng súng nổ rất nhiều phía trên mặt đất. Tối đến, chị em tôi trồi lên khỏi công Sự thì gặp các anh Tiểu đoàn 3 và được biết các anh đã chiến đấu suốt ngày để ghìm chân địch, không cho chúng vào làng và kế hoạch sẽ di chuyển quân...
Tình hình hết sức cấp bách đặt ra là chúng tôi ở lại tiếp tục rúc công sự hay di chuyển theo Tiểu đoàn 3? Chúng tôi quyết định bám theo bộ đội chứ ở lại không biết tình hình sẽ ra sao? Cũng từ đó chúng tôi trở thành nhân chứng sống chia lửa với các anh D3 trong suốt cuộc chiến 21 ngày đêm.
Lúc xảy ra trận 21 ngày đêm, Tiểu đoàn trưởng Hà Đình Khôi đi họp Mặt trận 4. Cán bộ Tiểu đoàn chỉ có đồng chí Dương Nguyễn Hiệp - Chính trị viên trưởng trực tiếp chỉ huy. Tối đó, Tiểu đoàn di chuyển xuống thôn Nông Sơn, xã Điện Phước. Các cuộc giao tranh ác liệt tiếp tục diễn ra vô cùng ác liệt.
Ban đêm Tiểu đoàn di chuyển vào đường 100 nhưng địch phát hiện và nổ súng chặn lại. Nhiều đêm anh em quyết tử mở đường máu để đi nhưng đều bất thành do quân địch quá đông. Sau đó đơn vị tiếp tục di chuyển đến các thôn Hạ Nông, Châu Lâu, Đông Hồ, Làng Ngang và cuối cùng là thôn La Thọ Nam, xã Điện Hòa.
Qua điện đài chỉ huy của ta và loa từ máy bay địch kêu gọi đầu hàng, chúng tôi biết Tiểu đoàn 3 đã bị bao vây bởi trên 7.000 quân địch. Từ một vòng vây rất rộng: Phía nam, địch đóng dọc đường 100; phía tây, quân địch từ Bồ Bồ kéo xuống (dọc đường xe lửa). Phía đông, địch đóng quốc lộ I, siết dần lên sông Cổ Cò. Phía bắc, quân Mỹ đóng dọc bờ Bắc sông La Thọ.
Ban ngày chúng dồn dập mở các cuộc tấn công khốc liệt vào khu vực đóng quân của D3, có ngày lên đến 17 cuộc. Chúng kết hợp cả bộ binh, xe tăng, đại bác và máy bay dội bom xuống đội hình nhưng cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 3 với hơn 200 cán bộ và chiến sĩ vẫn kiên cường chống trả quyết liệt. Nhiều đợt tấn công của địch bị đẩy lùi, nhiều đợt xáp lá cà ta thu được vũ khí địch để đánh lại địch.
Cả đợt chống càn 21 ngày đêm máu lửa, với lực lượng không cân sức Tiểu đoàn 3 đã tiêu diệt và làm bị thương hơn 1.700 tên địch, phá hủy hàng chục xe tăng, bắn rơi 15 máy bay, thu gần 100 súng các loại. Nhưng quân ta cũng phải trả một cái giá rất đắt: Cả tiểu đoàn hy sinh gần hết, chỉ còn lại một ít anh em còn sống (Sau này Mặt trận 4 bổ sung quân xây dựng lại Tiểu đoàn với bộ khung là những cán bộ, chiến sĩ còn lại).
Khi viết những dòng này, tim tôi như thắt lại. Hình ảnh các anh chiến đấu ngã xuống cứ hiện lên trước mắt tôi. Hôm đó, khoảng 24/11/1968, đồng chí Phi- Đại đội trưởng Đại đội 3 đứng trên miệng hầm chỉ huy trận đánh thì chiếc tàu rà của địch sà xuống bắn một quả rocket trúng ngay người, một nửa thân hình còn lại của anh ngã xuống... Căn hầm đặc khói mù cay không thở nổi, chúng tôi phải lấy tay khoét đất, đưa mũi xuống cố lấy hơi để thở. Cứ thế, bom đạn suốt ngày dội xuống khu vực đóng quân.
Tối đến, địch co cụm ra xa hơn nhưng vẫn bắn đại bác và thả pháo sáng. Mặc, anh em chúng tôi lên khỏi miệng hầm để xử lý gấp rút thương vong trong ngày. Số anh em hy sinh thì đưa xuống các căn hầm bị bom xới rồi lấy xẻng lấp đất lại (có hầm đến 7 liệt sĩ). Những người bị thương nặng thì khiêng xuống hầm đại bác hoặc công sự của du kích địa phương (lúc có điều kiện thì kèm theo ít nước uống và gói gạo rang), thương binh nhẹ thì di chuyển theo đơn vị... Tất cả cứ diễn ra dưới làn đại bác và pháo sáng của địch. Cứ mỗi đêm đơn vị di chuyển đi nơi khác là để lại một số anh em thương binh, liệt sĩ như vậy đó!
Đêm 9/12/1968, chúng tôi cùng D3 di chuyển đến thôn La Thọ (nam sông La Thọ) xã Điện Hòa. Anh em khẩn trương đào công sự chiến đấu, còn hai chị em chúng tôi trú trong hầm đại bác cùng các anh chỉ huy.
Rạng sáng 10/12/1968, các mũi quân của địch đồng loạt tấn công siết chặt vòng vây. Anh em D3 không nao núng, chiến đấu kiên cường, dũng cảm đẩy lùi nhiều đợt xe tăng, bộ binh của địch. Đến khoảng 15h, địch vừa ném bom, bắn pháo, vừa siết chặt vòng vây. Căn hầm đại bác mà chúng tôi đang trú bị trúng bom bay mất một nửa, nhiều anh em hy sinh không còn nguyên vẹn. Tôi và chị Trần Thị Trung bị thương, cháy sém cả mặt mũi, tóc tai...
Trận chiến trở nên khốc liệt hơn khi hàng chục chiếc trực thăng (bà con gọi là sâu đo) chở quân ồ ạt đổ xuống cánh đồng Thí Thân (La Thọ). Vòng vây siết chặt hơn, hai bên giáp chiến, súng nổ liên hồi, trong tiếng bom rơi, đạn nổ, cái chết cận kề nhưng các anh vẫn nghĩ đến chúng tôi, các anh chỉ huy còn lại đã hét vào tai chúng tôi: ‘Chúng mày không được chết ở đây!” Nói xong, các anh đẩy hai chị em tôi lên khỏi miệng hầm bảo “chạy đi!”
Trên đầu là hai chiếc máy bay (tàu rà) quần đảo. Thấy chúng tôi, chúng ném quả mù đỏ chỉ điểm. Lập tức, những chiếc máy bay khác lao đến ném bom và bắn xối xả quanh chúng tôi, dưới chân cỏ lùng dày khít, cao lút đầu, vướng không thể chạy nổi... Không còn con đường nào khác, chúng tôi chạy ra bờ sông La Thọ. Quân địch đuổi theo sau, hò la...
Chúng tôi băng qua giao thông hào đã thấy nhiều anh em bị thương nặng nằm đó, lúc này chúng tôi chỉ kịp rúc nhanh vào bụi cỏ lùng dưới chân các bụi tre gần bờ sông. Tiếng quân Mỹ la hét ngày càng rõ “Vici đứng lên”, tiếng đạn M79 nổ ngay cạnh chỗ chúng tôi nằm, hai chị em tôi mím chặt môi, rút chốt lựu đạn sẵn sàng bung ra sống chết với kẻ thù quyết không cho chúng bắt sống.
Tiếng súng thưa dần...
Chiều xuống, chúng tôi nghe tiếng hò reo của lính Mỹ xa dần và tiếng máy bay hạ xuống cánh đồng, chắc là để hốt quân đi.
Rồi không gian bỗng yên tĩnh lạ thường! Tôi lắng nghe. Đúng là địch đã rút quân. Và, ... có tiếng anh em, đồng đội, đồng chí gọi tìm nhau! Tôi khóa chốt lựu đạn rồi chui ra khỏi bụi tre. Trước mắt là cảnh tượng quá thương tâm, rất nhiều chiến sĩ bị thương của ta bị địch bắn hy sinh ngay dưới giao thông hào... Các anh du kích, bộ đội còn sống đi tìm những người còn lại và giải quyết thương vong...
Địch đã rút quân hoàn toàn, anh em cơ quan tôi vượt đường 100 tìm chúng tôi. Các anh đưa chị em tôi vào trạm xá Điện Bàn chăm sóc, nấu cháo cho chúng tôi ăn. Cổ họng rất đau rát, khô khốc sau nhiều ngày chịu đói, chịu khát, chúng tôi phải nhấm từng tí, từng tí một. Khi chị em đưa tôi chiếc gương soi, tôi không thể nhận ra mình nữa, tóc tai cháy sém, mặt mũi phồng dộp, đen thui. Tôi đã khóc rất nhiều, ai cũng động viên “còn thế này là tốt lắm rồi, ít hôm sau rồi sẽ khỏi”. Tôi lại nghĩ những đồng đội đã hi sinh trong cuộc chiến đấu này, nước mắt tôi cứ thế trào ra...
Bây giờ đã tròn 52 năm trôi qua nhưng những hình ảnh các anh hy sinh trong trận chiến vẫn in đậm trong tâm trí tôi. Cứ đến ngày Thương binh Liệt sĩ tôi lại về nghĩa trang Điện Bàn để thắp nén hương lòng tưởng nhớ các Anh hùng, liệt sĩ đã hiến dâng tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc, trong đó có các anh Tiểu đoàn 3.
Tôi lại nghe tiếng các anh như văng vẳng bên tai “Chúng mày không được chết ở đây”. Giữa cuộc chiến đấu một mất một còn hôm đó, các anh đã xác địch cho mình cái chết để cho chúng tôi được sống! Giữa cái lằn ranh sinh tử ấy các anh có thể chạy ra bờ sông như chúng tôi... nhưng các anh đã không làm và tiếp tục chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, giữ tròn khí tiết anh Bộ đội Cụ Hồ. Các anh đã đi vào BẤT TỬ cùng với D3 Anh hùng ghi dấu ấn Lịch sử trên mảnh đất Điện Bàn máu lửa quê tôi!
Tình đồng đội trong chiến đấu, giữa cái chết và cái sống sao mà thiêng liêng, cao quý, trong sáng đến thế! Trong lửa đạn anh em chúng tôi chia nhau từng ngụm nước, từng nắm gạo rang, từng hơi thở trong căn hầm ngột ngạt khói bom và chia nhau cả sự sống! Tình cảm ấy đã gắn bó tôi với D3 như anh em một nhà. Đến bây giờ, các anh quê miền Bắc vẫn thỉnh thoảng về Đà Nẵng, Điện Bàn để gặp gỡ những anh em còn lại (trong đó có cả tôi) để ôn lại kỷ niệm một thời máu lửa và tưởng nhớ những đồng đội đã hi sinh! Các anh còn tìm về Đà Nẵng với kỹ ức một thời: “Tìm em gái đã băng bó cho anh với mái tóc dài xòa trên mặt”; “Tìm lại em gái giữa đạn bom cho anh củ gừng cay, hạt ô mai khi anh khô khốc cả cổ họng”; “Tìm lại người đã cho anh viên thuốc trong cơn sốt rét rừng giữa hai trận đánh”... Nhiều lúc trong lửa đạn ác liệt, tôi cũng không nhớ rõ gương mặt, tên tuổi các anh nhưng theo các anh: Nghĩa cử tuy rất nhỏ của tình quân dân trong chiến đấu trên quê hương thứ hai đã in đậm trong tâm trí các anh, theo các anh đến cả cuộc đời!
Có một điều luôn trăn trở mãi trong tôi, nhất là mỗi khi xem Truyền hình trên chương trình “Nhắn tìm đồng đội” tôi càng ray rứt hơn bởi vì tôi đã chứng kiến các anh nằm lại ở các hầm đại bác, các công sự, giao thông hào ở các địa điểm đơn vị đã đi qua. Chắc chắn sau ngày hòa bình lập lại, chính quyền địa phương có quy tập một số anh vào nghĩa trang nhưng với một cái tên chung là “Liệt sĩ chưa biết tên”. Nhưng vẫn còn nhiều lắm các anh nằm rải rác ở đâu đó chưa tìm được hài cốt, bởi khi chiến đấu đơn vị đi qua, địch đến đã đánh sập các hầm anh em nằm trong đó.
Mong muốn cháy bỏng của tôi và các anh chị em đơn vị D3 là tại nơi các anh thường đóng quân và hy sinh nhiều nhất tại Điện Bàn có được Nhà bia tưởng niệm “Liệt sĩ Tiểu đoàn 3 Mặt trận 4 - Quảng Đà” để anh chị em đơn vị, gia đình, bạn bè và bà con địa phương hương khói các anh trong những ngày Thương binh Liệt sĩ, lễ tết... Để các anh cảm thấy ấm lòng trên quê hương thứ hai của mình và biết rằng nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng vẫn mãi mãi ghi nhớ Tiểu đoàn 3 Anh hùng đã chiến đấu dũng cảm, ngoan cường trong trận chống càn lịch sử - 21 ngày đêm máu lửa.
Đất nước mình bây giờ tươi đẹp lắm các anh ơi. Các anh đã ngã xuống để đem lại hòa bình, độc lập, tự do cho Tổ quốc hôm nay... Và tôi lại ứa nước mắt, nhớ về câu thơ của ai đó: “Khi chiến thắng về không có bóng anh Em hãy nhìn lên sắc cờ kiêu hãnh Có anh về âm ấp rặng dừa xanh!”...



