Khác

Ư TƯỞNG QUÂN SỰ VIỆT NAM TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1884

Năm 1847, thực dân Pháp chính thức bắt đầu đường lối "ngoại giao pháo hạm"1 (Yoshiharu Tsuboi: Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr. 90) bằng việc cho quân nổ súng bắn chìm 5 tàu chiến của triều Nguyễn ở cửa biển Đà Nẵng rồi rút đi. Mười năm sau (1857), 2 chiến hạm của Pháp đến khiêu chiến ở cửa biển Đà Nẵng. Hai sự kiện này cho thấy sớm muộn gì thì thực dân Pháp cũng sẽ xâm lược Việt Nam.

07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đối diện với nguy cơ bị xâm lược cận kề, triều đình tỏ ra cảnh giác và tích cực chuẩn bị các biện pháp ứng phó. Tăng cường hệ thống phòng thủ bờ biển là một trong những chủ trương chiến lược được ưu tiên hàng đầu. Vua Tự Đức ra lệnh cho các đại thần quân cơ phải ra sức "trù liệu về việc trấn áp Tây dương. (...) Đặt bảo Trấn Dương ở đỉnh núi, chia đặt 20 cỗ xe súng đại bác (...), từ thành An Hải đến chân núi Trà Sơn, từ thành Điện Hải đến cảng Thanh Khê, đắp lũy cát rồi trồng cây gai góc che lấp"1 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2007, t.7, tr.491, 466). Để canh phòng cẩn mật ải Hải Vân, một cửa ải rất quan trọng, nhà vua đã "phái Phó vệ úy Tiền Vệ dinh Long Võ là Lê Nghị đem theo 100 tên cấm binh đến ngay ải Hải Vân hiệp cùng quan quân nguyên phái đi trước để canh phòng. Lại sai Bộ phái thêm đủ 100 tên đóng giữ thành Trấn Hải và 1 viên quan Vệ dinh Thần cơ pháo thủ đủ 30 tên sắp đủ thuốc đạn súng và khí giới nghiêm chỉnh để phòng bị (...), sai quyền Chưởng Hữu dực dinh Vũ Lâm là Đào Trí đến ngay cửa biển Đà Nẵng hiệp cùng Trần Tri coi giữ 2 thành An Hải và Điện Hải tùy cơ đánh dẹp làm việc; quyền Chưởng dinh Long Võ là Trần Hoằng đến ngay Quảng Nam"2 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2007, t.7, tr.491, 466). Kết quả là một hệ thống phòng thủ dọc bờ biển khá quy mô và kiên cố đã được thiết lập và sẵn sàng ứng chiến nếu bị thực dân Pháp tấn công.


Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược nước ta ở Đà Nang. Đây là một sự kiện không quá bất ngờ với triều Nguyễn. Để đối phó lại, Nguyễn Tri Phương được triều đình bổ nhiệm chức Tổng đốc Quảng Nam và được lệnh cùng với các tướng Chu Phúc Minh và Đào Trí ra Đà Nẵng chặn giặc. Nguyễn Tri Phương chủ trương "giặc lấy chiến làm lợi, ta lấy thủ làm lợi. Xin lấy thủ làm chiến, đắp thêm đồn lũy, để dần dần tiến đến gần giặc"1 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Sđd, tr.466). Vì thế, ông đã cho xây dựng đồn Liên Trì và dựng một chiến lũy dài hơn 4 km từ Hải Châu (chân đèo Hải Vân) tới Thạc Giản. Bên ngoài các chiến lũy, ông sai quân đào hố chữ phẩm cắm chông, che cỏ và cát lên trên và chia quân mật phục nhằm vây chặt quân Pháp. Với chiến thuật này, quân đội triều đình đã nhiều lần đánh lui các cuộc tấn công của giặc Pháp, giam chân chúng suốt 5 tháng liền tại Đà Nẵng, làm cho chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của giặc Pháp bước đầu bị phá sản, buộc chúng phải chuyển hướng đánh vào phía Nam.


Tại mặt trận phía Nam, quan quân triều Huế đã áp dụng chiến thuật lấy thành phòng thủ. Nhưng trước sức tấn công mạnh mẽ bằng hỏa pháo của địch, chiến thuật này nhanh chóng trở nên vô dụng. Đại tá Henri de Ponchalon, một trong những viên chỉ huy đánh thành Gia Định, đã mô tả lại diễn biến một phần trận đánh như sau: "Thành phố nằm giữa hai kênh đào, thành che khuất sau vòm cây, tường thành che khuất bởi rừng rậm, vườn tược và nhà cửa. Vì thế hỏa lực của ta (quân Pháp - TG) lúc đầu rất chậm, sau nhanh dần, và ngày càng chính xác, khi quân địch (quan quân triều đình - TG) vì bắn trả lại nên đã để lộ vị trí của thành. Hai bên đấu pháo rất hăng, trong vòng 45 phút, may mắn là quân Việt thường bắn cao quá, đạn thường bay ngang qua cột buồm tầu ta"1 (Tập tư liệu tham khảo lịch sử cận đại Việt Nam, tư liệu của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.11, 12). Do chiếm ưu thế áp đảo về hỏa lực, nên chỉ trong vòng hai ngày (từ ngày 16 đến ngày 17-2-1859), quân Pháp đã chiếm được thành Gia Định. Mặc dù "các mặt thành đều có pháo đài, thành rộng mỗi mặt 475 mét, chứa đủ một công xưởng. Nếu kể cả số vũ khí của hai pháo đài trên bờ sông, người ta có thể ước lượng số súng thường đến hai vạn cây, đại bác sắt và đồng đến 200 khẩu, riêng trong thành có chứa tới 85.000 cân thuốc súng"2 (Tập tư liệu tham khảo lịch sử cận đại Việt Nam, tư liệu của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.11, 12) nhưng quan quân triều đình đành chịu thất bại.


Tuy chiếm được thành Gia Định, nhưng với lực lượng có hạn, thực dân Pháp không thế mở rộng phạm vi đánh chiếm. Đầu năm 1860, Nguyễn Tri Phương được triều đình bổ nhiệm chức Thống chế mặt trận Gia Định, cùng với Tôn Thất Cáp vào mặt trận phía Nam chặn giặc. Lúc này do quân Pháp đang bị sa lầy trong cuộc chiến ở Trung Quốc, nên phải rút bớt quân từ Gia Định sang tham chiến. Lực lượng của địch tại Gia Định gặp nhiều khó khăn khi chỉ còn lại 1.000 quân và phải đóng rải rác trên một chiến tuyến dài đến 10 km trong thế bị bao vây và cô lập. Đây là một cơ hội thuận lợi đế quan quân nhà Nguyễn có thể phản công và đánh bại quân Pháp nhưng tướng Nguyễn Tri Phương vẫn án binh bất động, chỉ lo việc điều động nhân lực và vật lực để xây dựng phòng tuyến Chí Hòa thật kiên cố.


Nguyễn Tri Phương đã thực hiện đúng chiến lược phòng thủ, cầm chân không cho địch đánh rộng ra, vì theo ông: "Quân của Tây dương dưới nước, trên bộ dựa vào nhau, ta khó chống với họ, việc thủy chiến làm không được tiện. Vả lại quân của Tây dương súng nhỏ súng lớn đã giỏi, chúng lại liều chết. Quân của ta nhút nhát, bỡ ngỡ, đánh trên bộ cũng không địch nổi họ..., ta giữ còn không đủ, nói gì đến đánh. Nên liệu số binh lực hiện có, nhân các đồn lũy hiện tại, đặt phục binh để đánh, giữ cho kỹ để đợi, làm kế giằng dai"1 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Sđd, t.7, tr.636).


Rõ ràng, phòng thủ là giải pháp chiến lược xuyên suốt của quan quân triều đình trong thời kỳ đầu chống giặc Pháp xâm lược. Đó là lý do giải thích vì sao triều đình không chủ trương chủ động tiến công tiêu diệt địch. Hơn 20 năm sau (năm 1883), trong bài Điều trần các việc nên làm, Nguyễn Xuân Ôn thẳng thắn vạch ra các điểm yếu trong phòng thủ mà Nguyễn Tri Phương đã áp dụng: "Cố đại thần Nguyễn Tri Phương, trung nghĩa không ai bằng, có quen về việc quân, nhưng không có sở trường về việc làm tướng. Ông đắp nhiều doanh lũy để làm bia đỡ đạn, công việc ấy làm cho quân lính mệt nhọc, việc đánh, việc giữ đều kém thế. Giặc ở dưới tàu, mình đắp lũy chỗ này, thì chúng quay tàu qua chỗ khác, lũy của mình thành ra vô dụng. Ông lại đóng đồn phòng tiệt, thế lực bị phân tán, những việc đó rất là thất sách"1 (Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1961, tr.168). Hơn nữa, "một cuộc chiến tranh chỉ có phòng ngự, chỉ chống trả lại, cuộc chiến tranh ấy sẽ thất bại và rốt cuộc không phòng ngự nổi. Vì chỉ có nắm lấy chủ động, tấn công giặc mới phòng ngự được"2 (Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Văn Tiến Dũng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh: Bàn về chiến tranh nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân, Sđd, tr.171).

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7290



WWW

Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 3« Trả lời #8 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2021, 04:16:50 pm »
2. Cuộc đấu tranh giữa tư tưởng chủ chiến và tư tưởng chủ hòa

a) Thời kỳ 1862 - 1873

Chủ trương phòng thủ là một thất sách lớn của triều đình, nhưng điều tai hại hơn là trước sức tấn công dữ dội của giặc Pháp, nội bộ triều đình đã sớm có sự phân hóa và nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Điều này đã làm cho bộ máy lãnh đạo kháng chiến bị phân tán trầm trọng và không đưa ra được một quyết sách chống giặc Pháp thống nhất.


Mặc dù chiếm được Gia Định, nhưng với lực lượng quân sự hiện tại thực dân Pháp nhận thấy chưa đủ sức mở rộng phạm vi đánh chiếm ra toàn Việt Nam nên đã khôn khéo gửi thư cho triều đình Huế tỏ ý muốn giảng hòa. Sự kiện này đã châm ngòi cho những cuộc tranh luận gay gắt giữa các nhóm đình thần trong triều về việc nên thủ hay công, hòa hay chiến.


Nhóm thứ nhất gồm các viên quan đứng đầu Viện cơ mật như: Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản và Lưu Lượng. Lưu Lượng trình bày quan điểm của mình trước Vua Tự Đức như sau: "Bãi việc binh đao cho dân nghỉ ngơi, liệu thời thế mà nuôi sức, thì chiến không bằng hòa. Nhưng cần giữ cho chắc rồi sau sẽ bàn (...). Giặc lấy thuyền bền súng nhạy làm nghề giỏi ở ngoài biển rộng sóng gió, thế ta cũng khó tranh đua được với họ. Về kế sách thì hiện giờ nên lấy thế thủ làm chính. Giữ có vững vàng rồi sau mới có thể nói đánh nay hòa được. Nếu trước hết mà giữ không chắc thì chiến đã không được, lại e rằng hòa cũng không đủ trông cậy. Đến như cách công thủ Hoàng thượng đã chỉ thị đủ rồi, không thiếu gì nữa. Cứ theo cách đó mà làm thì cũng đủ đánh giặc"1 (Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, t.1, tr.433).


Nhóm thứ hai gồm: Trần Văn Trung, Trương Quốc Dụng, Chu Phúc Minh, Lâm Duy Thiếp, Phan Huy Vịnh, Phạm Chi Hương, Nguyễn Xuân Hãn, Nguyễn Hữu Thành, Nguyễn Luận, Lê Đức và Vũ Xuân Sắc. Theo họ, cách đánh giặc cốt giữ vững là hơn và cách giữ cần phải nuôi sức vững chắc và tùy cơ ứng phó. Để chứng minh quan điểm này, Lê Đức đã luận giải như sau: "Giặc Tây dương, thói thường vẫn đem quân đi khiêu khích nước ngoài; nước nào đánh nhau với nó, nếu được thì nó đánh mãi, chiến trận liên miên, hoạn nạn không dứt; (...) có thể thôn tính nhau được. Chuyến chúng đến này chẳng qua để cầu lợi thôi. Bởi vì quân ở xa đến, cốt cần đánh ngay. Nay chúng đắc chí ở Trà Sơn, lại đắc chí ở Gia Định, bèn giả hình làm ra cách có ý giằng dai; mà gần đây lại có việc chúng đưa thư đến. Dẫu trong thư nói những gì, chưa từng dịch ra để xem, nhưng ý ngu xuẩn của chúng tôi trộm nghĩ: đại yếu chẳng có hai khoản: một là muốn lập phố xá ở Trà Sơn để buôn bán sinh lợi; hai là cho người nước chúng đi lại truyền đạo Gia Tô thu thuế lấy lợi. Đó đều là những khoản ta không bằng lòng cho (...). Nhưng thuyền tàu súng đạn đều là cái sở trường của chúng (...). Nay ta muốn thi đua với cái sở trường của chúng, đánh nhau với chúng, mong cho chúng chóng lui, chưa thấy có cơ tất thắng. Mà lỡ ra có sa sẩy, lại thêm gió thổi chim kêu cũng sợ hãi. Lấy mình là chủ mà đối đãi với họ là khách, nên làm kế chống giữ lâu dài, để đợi khi chúng mỏi mệt, nếu chúng có sai sứ đi lại, thì bấy giờ ta sẽ tùy cơ châm chước đối phó, thì chúng cũng không làm gì được ta vậy"1 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Sđd, t.7, tr.610).


Nhóm thứ ba gồm: Vũ Đức Nhu, Phạm Thanh, Nguyễn Khắc Cần và Phạm Xuân Quế chủ trương nên hòa có mức độ. Họ đề nghị triều đình sai quân thứ Quảng Nam lấy nghĩa lý mà làm thư trách địch: "Liệu viết thư trách Pháp hay lấy nghĩa mà nói, xem họ nếu chỉ muốn thông thương như cũ, hoặc xin bỏ cấm đạo mà họ tự rút lui thì ta cho giảng hòa cũng chẳng hại gì. Nếu họ dối trá, chẳng đánh cũng chẳng hòa thì ta chỉ có sức thủ mà thôi"1 (Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, Sđd, t.1, tr.435).


Nhóm thứ tư gồm: Lê Chỉ Tín, Đoàn Thọ, Tôn Thất Thường, Tôn Thất Đạo và Nguyễn Hào cho rằng nên hòa ngay với Pháp. Theo họ, phép dụng binh lấy mình nhàn rỗi đối phó với quân giặc nhọc mệt. Nay giặc nhàn rỗi mà ta mệt nhọc thì việc đánh và giữ là rất khó. Hòa tuy là hạ sách nhưng hiện nay chính là lúc cần củng cố quân lính và dưõng sức dân. Nay giặc muốn cầu hòa thì ta không nên chần chừ, để lâu sợ có biến.


Nhóm thứ năm gồm: Tô Trân, Phạm Hữu Nghi, Trần Văn Vy, Lê Hiếu Hữu, Nguyễn Đăng Diêu và Hồ Sĩ Tuấn kiên quyết phản đối hòa nghị và chủ trương phải tấn công giặc ngay. Họ đề xuất những biện pháp đánh giặc cụ thể cho từng vùng. Theo họ, ở Quảng Nam và Gia Định, thế đất và tình hình giặc cũng có chỗ khác nhau một chút. Tại Quảng Nam số thuyền của Tây dương có ít, hiện đã vào sâu trong lòng sông, còn có cơ đánh úp được. Còn Gia Định thì có nhiều thuyền của Tây dương đang đóng, lại gần mặt biển, khiến quân ta khó tiến đến gần được. Bởi vậy, quân thứ Quảng Nam cần phòng bị rất nghiêm, đợi chúng vào sâu rồi đánh chúng ở trên bộ để thu toàn thắng. Quân thứ Gia Định nên cùng với các tỉnh, họp sức tiến đánh, khi đã nhử được tàu của Tây dương vào. Ở Gia Định đã thắng thì ở Đà Nẵng cũng có thể lần lượt dẹp tan quân địch. Nếu hòa thì các việc: bỏ điều cấm, cho thông thương, dựng nhà thờ đạo, lập phố bán hàng, trăm cách gian giảo đều bởi trong một chữ hòa mà ra cả, các tệ hại khác không thể nói xiết được.


Trong năm nhóm đình thần đó, nhóm chủ chiến không đông và không có phẩm hàm cao trong triều nên không thể tạo ra uy thế áp đảo. Nhóm chủ hòa gồm đa số quan lại đầu triều đã chiếm được ưu thế trong triều. Để đưa phái chủ hòa giành được tiếng nói quyết định cuối cùng trong triều đình, viên quan đầu triều Trương Đăng Quế lý luận rằng: "Một chữ "hòa" dẫu đời xưa đã từng có làm, nhưng đều là sự quyền nghi một thời gian, không phải là đạo thông thường... Nay đánh nó thì chưa thể đánh nổi, đuổi nó cơ cũng chưa tiện. Nhân họ xin hòa, chước lượng mà tòng quyền, có điều gì không nên, mà còn nói nhiều cho rườm ư?"1 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Sđd, t.7, tr.653). Còn đại thần quân cơ Nguyễn Bá Nghi khẳng định hòa tuy có thua thiệt thật nhưng mới có thế cứu vãn được Nam Kỳ: "Sự thế Nam Kỳ, duy việc hòa giải còn có thể làm được. Nếu không như thế thì còn có việc lo ngại khác (...). Người Tây dương tàu thì chở đi như bay, súng thì bắn được thành đá (...). Tôi đến Biên Hòa, xét thấy tình thế đều là nguy bách, nhưng thực ra tôi thấy sự thể, đánh và giữ đều không làm được. Không hòa thì không định được cục diện"1 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Sđd, t.7, tr.715, 611, 617).


Trước cuộc tranh luận gay gắt giữa các đình thần, Tham tri Bùi Quỹ đã dâng thư yêu cầu Vua Tự Đức phải có sự quyết đoán: "Thần trộm nghe đình thần, người thì nói đánh giữ, người thì nói hòa thân (...). Người chủ trương hòa thân thì ngầm chê trách bọn chủ chiến là không hiểu sự cơ. Người cầm dầm, người cầm sào, mỗi bên một ý kiến, lỡ có việc nguy cấp xảy ra, còn có thể mong cùng một thuyền cùng chở được không. Xin nhà vua bỏ hết lời bàn khác đi, mà độc đoán từ trong bụng, định quy mô, trước để thống nhất lòng người"2 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Sđd, t.7, tr.715, 611, 617). Nhưng Vua Tự Đức lại tỏ ra rất do dự và cuối cùng đã đi đến nhận định: "Hai bên đánh nhau, bên nào cũng có trận được trận thua. Nay đã chán chiến tranh, đến bàn hòa cũng là ý tốt"3 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Sđd, t.7, tr.715, 611, 617). Do Vua Tự Đức ngả hẳn về phe chủ hòa nên chủ trương hòa nghị đã trở thành quyết sách chung của triều đình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn