Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

VÀI ĐIỀU NHỚ LẠI SAU HƠN NỬA THẾ KỶ VỀ BAN NGHIÊN CỨU KHÔNG QUÂN (9 – 3 - 1949)

Đoạn hồi ký kể lại quá trình tác giả từ một học sinh ở Huế mơ ước được ngồi trên máy bay của vua Bảo Đại, sau Cách mạng Tháng Tám 1945 lại trở thành người trực tiếp quản lý hai chiếc máy bay Tiger Moth và Morane được chuyển giao cho chính quyền cách mạng. Trong điều kiện kháng chiến khó khăn, các cán bộ đã bí mật di chuyển, bảo quản máy bay, xây dựng sân bay dã chiến và nghiên cứu kỹ thuật hàng không. Khi Ban nghiên cứu Không quân được thành lập năm 1949 theo quyết định của Võ Nguyên Giáp và ch

Lai Châu07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hơn nữa thế kỷ về trước, khi còn là một cậu học sinh trường Quốc học Huế, thỉnh thoảng tôi thấy 2 chiếc máy bay của vua Bảo Đại bay trên thành phố Huế, tôi rất thèm muốn được ngồi trên những máy bay ấy, chỉ "ngồi" chứ không dám mơ đến việc lái chúng. Thực dân Pháp không cho người "An Nam" học lái máy bay, chỉ được làm thợ bảo dưỡng máy bay cho Pháp. Muốn được làm phi công, phải vào "làng Tây" và đi lính cho Pháp, như Đỗ Hữu Vị - đại úy trong không lực Pháp đã bị Đức bắn hạ trong thế chiến 1914 - 1918.

Không ngờ, nhờ có cách mạng, sau này tôi lại được quản lý 2 máy bay đó!

Sau khi vua Bảo Đại thoái vị, và được mời ra Hà Nội làm cố vấn cho Chính phủ ta, trong tài sản mà ông ta chuyển giao cho chính quyền cách mạng có 2 chiếc máy bay nói trên, 1 chiếc Tiger Moth (tạm dịch là con Mối chúa) và 1 chiếc Morane Saulier (Morane là một hãng chế tạo máy bay của Pháp).

Chiếc Tiger Moth là máy bay của Anh quốc sản xuất từ năm 1931 đến 1944, tổng số 9.000 chiếc, nó bay an toàn, dễ lái, nên được không lực Hoàng gia Anh dùng để tập lái rất có kết quả.

Vài đặc điểm của Tiger Moth.

Trọng lượng: 544kg (không chở người, hàng).
Động cơ: 1 x 142 HP.
Bán kính hoạt động: 442km.
Tốc độ tối đa: 172km/h.
Trần (cao nhất): 4.444m.

Ngoài công dụng cho tập lái, nó còn được dùng để chở người, ra mệnh lệnh, quan sát. . . có thể hạ cất cánh ở bãi cỏ, trên đường ô tô v. v. . .

Chiếc Morane có dáng khí động học hơn, bay nhanh hơn, được Bảo Đại dùng khi đã lái thạo chiếc Tiger Moth (có 1 huấn luyện viên Pháp luôn luôn kèm).

Ông cố vấn (Bảo Đại) đề nghị đưa 2 máy bay ra Hà Nội để thành lập 1 câu lạc bộ hàng không và được Chính phủ chấp thuận. Hai máy bay được tháo cánh, chở bằng xe hỏa, và cất giấu ở sân bay Tông vì hai sân bay Bạch Mai và Gia Lâm đang bị quân Tàu Tưởng đóng giữ lúc này. Cùng đi theo có 1 tổ thợ bảo dưỡng gồm các ông Đống (tổ trưởng), Mai, Khánh, Nghệ, Chất. Sau ngày 19-12-1946 tháng 1 năm 1947, lại đưa 2 máy bay lên Soi Đúng (Chiêm Hóa) cất giấu và bảo quản, bãi ngô ven sông được san phẳng, gia cố để làm sân bay thử.

Hai lần di chuyển từ Tông lên Bình Ca và từ Bình Ca bằng phương tiện thô sơ trong điều kiện rất nguy hiểm, máy bay địch thường xuyên lùng sục, phải đi đêm, ngược dòng, ban ngày phải chặt cây lá ngụy trang rất gian khổ. Thế mà các anh Lê Văn Nho, Lê Thạch Liên với sự giúp đỡ của nhân dân hai bên sông, đã đưa được máy bay đến đích an toàn. Chỉ bị máy bay địch bắn phá 1 lần, khi tạm dừng ở sân bay Bình Ca (có tên là Hang Hùm) thiệt hại không đáng kể: Chiếc Tiger Moth bị đạn làm thủng vài chỗ, anh em trong tổ bảo dưỡng đã về Hà Đông mua lụa và vá lại bằng sơn ta (thân và cánh của Tiger Moth được bọc bằng vải bạt, còn thân, cánh Morane toàn bằng nhôm)...

Cuối năm 1947 sau khi địch bị quân và dân ta đánh cho tơi bời phải rút quân khỏi Việt Bắc, tôi được lệnh của đồng chí Tạ Quang Bửu, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lên Soi Trinh nắm tình hình (đồng chí Tạ Quang Bửu là Thứ trưởng, riêng giai đoạn từ 8-1947 đến 8-1948 là Bộ trưởng. Sau đó lại giữ chức Thứ trưởng) . Cùng đi có anh Đức Việt lúc đó còn là nhân viên của Nha Nghiên cứu kỹ thuật quân giới. Anh Đức Việt tên thật là Verner Schultze, là phi công Đức ra hàng ta từ năm 1945.

Đầu năm 1948, tôi và Đức Việt được lệnh đi vào Nghệ An làm một sân bay dã chiến để đón một máy bay từ Xiêm đến, hàng chở là linh kiện và máy móc thông tin do một cán bộ đài phát thanh đi mua bên Xiêm (Thái Lan) tôi và anh Việt đi bộ mất nửa tháng mới đến miền Tây Nghệ An, vì phải đi vòng vèo tránh đồn địch, chúng tôi nói với nhau: Đoạn đường hơn 500km, máy bay Pháp bay mất có 1 giờ mà mình phải đi nửa tháng, tức thật. Cái sân bay dã chiến làm xong thì bà chủ Thái Lan không cho thuê máy bay nửa. Chúng tôi lại lóc cóc đi bộ về. Chỉ được một điều là trong một tháng cùng đi tôi tranh thủ học ở anh Đức Việt nhiều điều bổ ích về hàng không, từ yêu cầu kỹ thuật của một sân bay đến các thiết bị trên máy bay. Tuy học lối truyền khẩu như vậy nhưng nhờ trước đã đọc sách, tạp chí của Pháp, Mỹ, Anh về máy bay và chơi mô hình máy bay nên tiếp thu cũng nhanh...

Trong số tài liệu anh Tạ Quang Bửu mang về khi đi Hội nghị Phongtennơbờlô có 3 cuốn có lợi cho Trường cán bộ Không quân sau này:

1 Aircraft recognition (nhận dạng máy bay) chủ yếu của Anh và Mỹ, có hình vẽ rõ ràng và tính năng của máy bay Mỹ mà Pháp dùng đánh ta.

2. Kỹ thuật lái máy bay của một tác giả Pháp.

3. Sách huấn luyện bắn máy bay bằng súng bộ binh tập trung của Đức, tôi nhờ anh Đức Việt dịch ra từ tiếng Đức và tận dụng cuốn nhận dạng máy bay để viết cuốn: Bắn máy bay bằng súng trường tập trung, được Bộ Tổng tham mưu in và phổ biến rộng rãi vào năm 1948.

Không rõ có nhiều đơn vị áp dụng cách bắn này không, riêng tôi và anh Tôn Thất Hiền có thấy một chiếc Junker 52 ba động cơ bị hạ ở Phú Lương (Bờ Đậu, Thái Nguyên) bởi 1 đại đội súng trường, chúng tôi có hỏi cung 3 tên còn chưa chết và biết rằng 1 động cơ trúng đạn và bốc cháy, rồi cả 3 đều cháy to, máy bay rơi, chúng nó bị chết cháy ngay 3 tên, còn 3 tên ngắc ngoải.

Có điều chắc là từ khoảng 1949 trở đi, máy bay Pháp không dám ngang nhiên bay thật thấp nữa.

Đầu năm 1949 đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí Hoàng Văn Thái, Phan Phác đi đến báo cáo và xin ý kiến Bác Hồ về việc thành lập một cơ sở ban đầu của không quân gọi là Đội huấn luyện Không quân. Bác cho ý kiến đại ý là: Chỉ nên là Ban nghiên cứu thôi, chỉ tổ chức một lớp gọi là lớp không quân để phối hợp tham gia nghiên cứu vừa học vừa làm.

Ngày 9-3-1949 đồng chí Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh Quân đội Quốc gia Việt Nam đã ra quyết định thành lập Ban nghiên cứu Không quân. Gần như cùng một lúc Ban nghiên cứu Thủy quân cũng ra đời. Chúng ta có thể khó khăn nhưng các bạn bên thủy quân còn khó khăn hơn: Ta có máy bay để tập, họ chỉ có thuyền nan!

Ngày 14-9- 1949 xảy ra một sự kiện đáng buồn, làm ảnh hưởng đến tương lai của ban và trường đó là chiếc máy bay Tiger Moth gặp nạn khi hạ cánh sau khi bay kiểm tra ở Soi Trinh chuẩn bị cho lớp lái bay tập.

Đáng mừng là máy bay vẫn nguyên vẹn, mặc dù quân Pháp đi ca nô dưới sông chỉ cách chỗ dấu 2 máy bay vài trăm mét.

Hai máy bay được bảo quản, chờ lệnh phục vụ cho công tác huấn luyện.

Chiếc Tiger Moth được đưa về Trường Không quân Việt Nam ở Ngòi Liễm làm học cụ. Thật đáng tiếc vì nó là loại máy bay dễ lái, rất thích hợp cho việc học lái sơ đẳng. Theo tài liệu tôi mới nhận được từ một bạn định cư ở Mỹ (lấy từ Internet) loại máy bay này hiện còn được trưng bày ở các bảo tàng không quân ở Anh, Mỹ, Tân Tây Lan. Anh Tôn Thất Hiền, khi thăm bảo tàng Không quân ở Đức có chụp được ảnh của nó. Mặc dù không còn khả năng bay tập cho học viên khóa 1 (28 học viên lái) Bộ Tổng tham mưu vẫn chỉ thị khai giảng khóa 2 (87 học viên gồm: Học lái: 28, khí tượng 31, máy: 28) có lẽ vì cấp trên thấy cục diện chiến tranh đã chuyển biến có lợi cho ta, có thể ta lấy được máy bay địch (hoặc được viện trợ từ các nước bạn) các lớp học của khóa 1,khóa 2 đạt kết quả tốt, đặc biệt là 2 lớp khí tượng và máy, không bị ảnh hưởng gì của "sự kiện Tiger Moth" tham gia giảng dạy có các giáo viên của ta và một số giáo viên nước ngoài do Bộ Tổng tham mưu cử về, ngoài anh Đức Việt đã có từ trước còn có:

1 Trần Hà (tên Việt Nam) phi công Nhật đã tham gia chiến tranh ở Singapo.
2. Nguyễn Ba, thợ máy Nhật.
3. Malenbach, thợ máy Đức.
4. Lubrish, gấp dù và nhảy dù (Đức).
5. Schertaner, thợ máy áo.

Đó là những nhân viên kỹ thuật đã tham gia trong việc huấn luyện học viên các lớp lái và máy, đồng thời góp một số ý kiến cho các tiểu ban "sân bay" v.v . . .

Trước tình hình ngày càng có lợi cho ta, cả về quân sự lẫn chính trị, bạn viện trợ cho ta pháo mặt đất và pháo phòng không. Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh quyết định giải thể Ban nghiên cứu Không quân, chuyển đa số anh em sang pháo binh và phòng không. Tôi được cử đi học nước ngoài, đi bộ từ Tuyên Quang sang Côn Minh, học bộ binh, tại Lục quân Học viện Minh Hồ được 1 năm, sau đó lại được giữ lại nước bạn 1 năm học lớp pháo binh. Về nước thì chiến dịch Điện Biên đã kết thúc, tôi rất tiếc là không được bắn phát đại bác nào vào tập đoàn cứ điểm của địch!

Một hôm, đang đi với 1 đoàn giảm tô thì được thư của anh Hoàng Văn Thái (Tổng Tham mưu phó) bảo về ngay, bổ sung vào Đoàn tiếp quản Hà Nội của anh Hà Văn Lâu. Chúng tôi vào Hà Nội trước ngày tiếp quản 10- 10-1954 độ 1 tuần, đấu tranh kịch liệt với phía Pháp về vấn đề tiếp quản sân bay Gia Lâm. Nhờ vốn kiến thức thu nhận được trong 3 năm ở Ban nghiên cứu Không quân, tôi đã giúp cho anh Hà Văn Lâu bắt phía Pháp chấp nhận, phải giao đủ các trang thiết bị (chúng nó định mang đi và phá hủy những thứ không mang đi được chỉ giao cho ta cái đường hạ cất cánh và cái xác nhà ga!).

Để kết thúc, tôi xin trích một đoạn trong cuốn "Hàng không dân dụng Việt Nam, những chặng đường lịch sử” của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 1995 và các cuốn lịch sử Quân chủng Không quân:

"Nhìn lại chặng đường 9 năm, sau khi nước nhà giành độc lập, mặc dù cả dân tộc ta phải tập trung sức lực và trí tuệ vào cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ để đánh đuổi bọn thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, bảo vệ nền độc lập, Đảng và Bác Hồ vẫn tiến hành những công cuộc chuẩn bị cho công cuộc kiến thiết đất nước sau này trong đó có việc tổ chức đào tạo cán bộ hàng không.

... Ban nghiên cứu Không quân tồn tại trong thời gian không lâu, những lớp học tổ chức trong điều kiện dã chiến, cơ sở vật chất kỹ thuật của ta còn thiếu, lại chưa hình dung hết tính phức tạp và khó khăn của 1 binh chủng kỹ thuật hiện đại, nhưng những gì mà Ban đã làm được thật hết sức có ý nghĩa, nhiều cán bộ chiến sĩ được đào tạo qua hai khóa học đầu tiên của trường đã trở thành những hạt nhân để xây dựng ngành Hàng không dân dụng và Không quân nhân dân Việt Nam sau này".

Viết những trang này, trong dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Ban nghiên cứu Không quân, tôi bùi ngùi nhớ lại những ngày gian khổ trên chiến khu Việt Bắc, gian khổ nhưng ấm áp tình đồng đội trong sáng, cán bộ, chiến sĩ, học viên thực sự đoàn kết, nhân dân các dân tộc vùng bản đóng quân hết lòng giúp đỡ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
VÀI ĐIỀU NHỚ LẠI SAU HƠN NỬA THẾ KỶ VỀ BAN NGHIÊN CỨU KHÔNG QUÂN (9 – 3 - 1949) | Câu chuyện thời hoa lửa