Bài viết

Vai trò lãnh đạo của Đảng với Chiến dịch Biên Giới (1950)

Gia Lai17/05/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vai trò lãnh đạo của Đảng với Chiến dịch Biên Giới (1950)

Chiến dịch Biên Giới 1950 là chiến dịch tiến công qui mô lớn đầu tiên của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954). Thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới 1950 đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối kháng chiến mà Đảng ta vạch ra ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, trải qua 29 ngày đêm chiến đấu quyết liệt (16/9 - 14/10/1950), ta đã giành được thắng lợi to lớn. Thất bại ở Biên Giới năm 1950 là “chưa từng có trong lịch sử chiến tranh xâm lược” của thực dân Pháp[1]. Làm nên thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới năm 1950 có nhiều nguyên nhân, trong đó là tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Trung ương Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Đây được coi là nhân tố quyết định thắng lợi có ý nghĩa bước ngoặt này.Đến giữa năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đã giành được những thắng lợi quan trọng và có bước phát triển mới. Qua quá trình lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1950), Đảng ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm trong quá trình tổ chức, chỉ đạo chiến tranh. Đầu năm 1950, Trung ương Đảng nhận định: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam phát triển đang có lợi cho ta, bất lợi cho Pháp về tương quan lực lượng trên chiến trường Đông Dương; thế và lực của ta ngày càng lớn mạnh, quân Pháp càng đánh càng suy nhược. Từ đó, ta xác định năm 1950 là năm bản lề giữa hai giai đoạn chiến lược, năm chuyển biến lớn - quyết định để quân và dân ta vượt qua giai đoạn cầm cự, chuyển sang giai đoạn tổng phản công; là cơ sở vững chắc để Đảng hạ quyết tâm chiến lược mở Chiến dịch Biên Giới.Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đài quan sát mặt trận Đông Khê, Chiến dịch Biên giới, ngày 16-9-1950. Ảnh tư liệuHội nghị toàn quốc lần thứ Ba (21/1 - 3/2/1950), Đảng ta đã thông qua chủ trương gấp rút chuẩn bị và chuyển mạnh sang tổng phản công. Về nhiệm vụ quân sự, báo cáo của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp xác định: Năm 1950 là “một năm chuyển hướng chiến lược”[2], chuyển mạnh sang tổng phản công. Phương châm tác chiến căn bản của ta là “vận động chiến là chính, du kích chiến là phụ, trận địa chính là phụ”. “Nhiệm vụ quân sự cụ thể và cần kíp của ta nói chung là: Một phương diện chiến đấu để tiêu diệt sinh lực địch, một phương diện gấp rút bồi dưỡng và xây dựng lực lượng ta để trong năm nay thực hiện được đầy đủ điều kiện, chuyển mạnh sang tổng phản công”[3].Chương trình công tác năm 1950 nhấn mạnh: “Chuẩn bị đầy đủ và mau chóng chuyển sang tổng phản công, làm cho năm 1950 này là năm đại thắng lợi”[4]. Chương trình công tác tập trung xây dựng bộ đội chủ lực, tăng cường bộ đội địa phương, phát triển dân quân và các đội quân ngầm, phát triển chiến tranh du kích; tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực và tinh thần của toàn dân... Đặc biệt, Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương về mở Chiến dịch Tây Bắc và chuẩn bị chiến trường Đông Bắc ngày 6/1/1950 khẳng định: “Chuẩn bị chiến trường Đông Bắc cho thật đầy đủ để khi có đủ điều kiện sẽ mở một chiến dịch lớn, quét địch ra khỏi Đường số 4 và một đoạn bờ bể, đánh bại quân địch trong vùng Đông Bắc”[5]. Ở Đông Bắc, “Công tác chuẩn bị cần chú trọng đến củng cố và phát triển cơ sở chính trị và vũ trang… điều tra địch tình, phá hoại kinh tế địch, chuẩn bị lương thực tiếp tế cho bộ đội đến đánh… phải chuẩn bị trên một phạm vi rộng lớn, cần huy động rất nhiều người. Các cấp ủy đảng phải tuyệt đối giữ bí mật; chỉ những ai có trách nhiệm mới được biết chủ trương của Trung ương… Muốn chuẩn bị cho thật đầy đủ và kịp thời và để tất cả mọi lực lượng hướng vào mục tiêu chính một cách có kế hoạch, các cấp ủy đảng phải ra sức lãnh đạo phối hợp quân dân chính thật chặt chẽ, thật ăn khớp”[6]. Đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo rất quan trọng của Trung ương Đảng về tư tưởng, tổ chức và hành động đối với Chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950.Thành công mang tầm chiến lược của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo Chiến dịch Biên Giới 1950 là chuyển hướng chiến lược tiến công kịp thời, chính xác. Theo dự kiến ban đầu, Trung ương Đảng chủ trương: “Mở chiến dịch Tây Bắc để phối hợp với Quân giải phóng Trung Quốc tiêu diệt tàn quân Quốc dân Đảng nếu chúng tràn qua biên giới. Làm tan rã khối ngụy binh và phá ngụy quyền, khôi phục lại Lào Kay (Lào Cai) mở thông đường quốc tế… Chuẩn bị chiến trường Đông Bắc cho thật đầy đủ”[7], vì chiến trường Tây Bắc, theo nhận định đánh giá của Trung ương Đảng, là nơi quân địch sơ hở và yếu nhất. Song, do sự phát triển nhanh chóng của tình thế cách mạng, Trung ương Đảng đã nhạy bén, linh hoạt chuyển hướng chiến lược từ Tây Bắc sang Đông Bắc. Hướng Đông Bắc, đang từ hướng quan trọng trở thành hướng chiến lược; ngược lại, hướng Tây Bắc đang là hướng chiến lược trở thành hướng phối hợp. Sự chuyển hướng chiến lược sang Đông Bắc đã trực tiếp làm phá sản Kế hoạch Revers của thực dân Pháp hòng củng cố tuyến phòng thủ biên giới Việt - Trung và phong tỏa bờ biển Việt Nam một cách nghiêm ngặt; củng cố tuyến hành lang Đông - Tây; chiếm giữ đồng bằng Bắc Bộ; củng cố khu phòng thủ tứ giác Lạng Sơn - Móng Cái - Hà Nội - Hải Phòng; bao vây, cô lập, tiêu diệt quân ta. Hơn nữa, hướng Đông Bắc, đặc biệt là đoạn Cao Bằng - Đông Khê trở thành nơi xung yếu và sơ hở, dễ bị công phá nhất trong hệ thống phòng thủ biên giới của quân Pháp. Do đó, bước chuyển hướng chiến lược từ chiến trường Tây Bắc sang chiến trường Đông Bắc nhằm giải phóng hoàn toàn biên giới khu vực này, phá thế bị bao vây, cô lập, nối thông với hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa, mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, trở thành quyết tâm chiến lược lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong Chiến dịch Biên Giới.Thực tiễn Chiến dịch diễn ra đúng như tính toán chiến lược của Trung ương Đảng và đã giành được thắng lợi vang dội, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh. Ta không chỉ tiêu diệt sinh lực tinh nhuệ của địch mà còn giải phóng một vùng đất đai rộng lớn gồm nhiều địa bàn chiến lược xung yếu, căn cứ địa kháng chiến được củng cố và mở rộng, giao lưu quốc tế thuận lợi, nối liền với Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân.Trong Chiến dịch Biên Giới, sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Bộ Chỉ huy Chiến dịch và các tướng lĩnh cao nhất của Quân đội đã tham mưu giúp Trung ương Đảng kịp thời điều chỉnh kế hoạch không đánh thị xã Cao Bằng như tính toán ban đầu mà chuyển sang tập trung lực lượng đánh vào Đông Khê, điểm tử huyệt của quân Pháp, tạo ra thế trận đánh điểm, diệt viện trong toàn Chiến dịch, đưa Chiến dịch giành thắng lợi hoàn toàn. Bên cạnh lãnh đạo, chỉ đạo tập trung khối binh lực lớn cho Chiến dịch Biên Giới 1950, Trung ương Đảng còn chỉ đạo quân và dân cả nước đẩy mạnh tiến công nhằm kiềm chế, ngăn chặn sự chi viện của địch cho chiến trường Cao - Bắc - Lạng. Ngày 12/8/1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị phát động Tuần lễ thi đua giết giặc lập công, nêu rõ trọng tâm công tác của quân và dân cả nước là đẩy mạnh chiến tranh du kích rộng khắp, tăng cường công tác binh địch vận, tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực… phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với Chiến dịch Biên Giới.Nhận rõ tầm vóc, giá trị và ý nghĩa chiến lược của Chiến dịch Biên Giới 1950, ngày 6/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Liên khu ủy Việt Bắc xác định rõ nhiệm vụ của quân và dân Việt Bắc trong Thu - Đông 1950. Hơn thế nữa, hạ tuần tháng 8/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên đường ra trận cùng Bộ Chỉ huy chiến dịch trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Sau khi xem xét kế hoạch tác chiến, công tác chuẩn bị mọi mặt, chiều ngày 10/9, tại Sở Chỉ huy Chiến dịch, Người phê chuẩn quyết tâm chiến đấu.Nhờ sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt, quyết tâm chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta được phát huy cao độ, các mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định của Ban Thường vụ Trung ương Đảng lập tức được truyền đạt đến cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường.Nét nổi bật trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược của Đảng ta đối với Chiến dịch Biên Giới 1950 là chủ động xây dựng, quán triệt và tổ chức thực hiện sáng tạo phương châm tác chiến chiến lược vào thực tiễn chiến đấu. Trước đó, đầu năm 1949, tại Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ Sáu (14 - 18/1/1949), Đảng ta đã đề ra phương châm chiến lược: “Du kích chiến là cơ bản, vận động chiến là phụ trợ. Nhưng cần mạnh bạo đẩy vận động chiến đi tới và khi đủ điều kiện thì kịp thời nâng vận động chiến lên địa vị quan trọng để tiến sang giai đoạn phản công”[8]. Phương châm đã được quán triệt và gấp rút thực hiện bằng các giải pháp cụ thể: Xây dựng bộ đội, phát triển lực lượng dân quân, kiện toàn cơ quan chỉ huy, đào luyện cán bộ, xây dựng nền lý luận quân sự Việt Nam, chấn chỉnh công việc tuyên truyền các chiến công của bộ đội và dân quân… Đối với công tác cán bộ, Đảng ta nhấn mạnh: Đào tạo và rèn luyện cán bộ có năng lực chỉ huy điều khiển bộ đội tập trung và đánh vận động chiến.Bên cạnh đó, Đảng còn chỉ đạo quân và dân ta đánh mạnh hơn nữa vào hậu phương địch, các vị trí chiến lược, cắt các đường giao thông quan trọng, nhất là các trung tâm chính trị của quân xâm lược Pháp; từ chủ động chiến dịch đi đến chủ động chiến lược từng bộ phận một cách táo bạo hơn; nỗ lực chuẩn bị tổng phản công, chuẩn bị trong kế hoạch chiến lược, trong xây dựng bộ đội và chuẩn bị về tinh thần cho toàn quân, toàn dân… Đây là những vấn đề hệ trọng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, là cơ sở chỉ đạo hoạt động tác chiến trên chiến trường. Đối với chiến trường Đông Bắc, để thực hiện phương châm “đánh điểm - diệt viện” giành thắng lợi, Đảng ta chỉ đạo cần có sự thống nhất về phương châm tác chiến chiến lược toàn chiến trường, trực tiếp là chiến trường Bắc Bộ. Trong Chiến dịch Biên Giới 1950, Đảng ta hạ quyết tâm đánh địch ở Cao Bằng, Lạng Sơn cùng với thực hiện các biện pháp nghi binh chiến lược trên hướng Tây Bắc, làm cho thực dân Pháp lầm tưởng ta chuẩn bị cho chiến dịch ở Lào Cai. Do vậy, Bộ Chỉ huy quân đội Pháp không thể điều động lực lượng cơ động chiến lược từ bên ngoài ứng cứu cho Cụm cứ điểm Đông Khê khi bị quân ta đánh chiếm. Mặt khác, tạo ra sự phối hợp hành động chặt chẽ trong việc kìm giữ, chia cắt hoặc nghi binh lừa địch giữa các địa phương, chiến trường, tạo điều kiện cho lực lượng chủ động trong cách đánh, giành thắng lợi.Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950 có vị trí quan trọng trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Chiến thắng đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhờ có tầm nhìn chiến lược và sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, nhạy bén, Đảng ta đã đánh giá đúng thực lực kẻ thù, đề ra chủ trương, phương châm tác chiến chiến lược kịp thời, chính xác, động viên cao độ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, theo hướng có lợi cho ta để giành thắng lợi quyết định./.[1] Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb QĐND, H, 2000, tr.288.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn