Khác

VAI TRÒ, Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA PHONG TRÀO NAM TIẾN 1945-1946

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trước âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã sớm dự liệu tình hình, chủ động chuẩn bị, tìm phương lược đối phó.

07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Sau lễ Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945), chi đội Vi Dân, đơn vị vũ trang tập trung được hình thành từ đội công nhân xung phong thành Hoàng Diệu1 (Thành Hà Nội) đã tham gia giành chính quyền ở Thủ đô, được điều lên Chợ Bến (Hòa Bình) để tập trung huấn luyện quân sự, sẵn sàng cơ động khi có tình huống bất trắc. Tiếp đó, ngày 10 tháng 9, chi đội 3 giải phóng quân được điều vào Thanh Hóa, sẵn sàng đánh quân Pháp từ phía tây tràn sang.


Ở Sài Gòn và Nam Bộ, theo chủ trương của Trung ương, trong nửa đầu tháng 9 năm 1945, một mặt ta kiên quyết đấu tranh với phái bộ Đồng minh để giữ vững chủ quyền; một mặt khác ta thành lập Ủy ban kháng chiến Nam Bộ lo việc chuẩn bị kháng chiến ở Sài Gòn và các tỉnh; Sài Gòn - Chợ Lớn và vùng kế cận được chia thành 5 mặt trận, trong nội thành lập 14 tiểu khu và hơn 300 tổ, đội xung kích...


Tinh thần bảo vệ độc lập, bảo vệ chính quyền nhân dân hừng hực trong toàn dân, trên khắp cả nước.

Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp được quân Anh giúp sức, trắng trợn nổ súng ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Ngay sáng hôm đó, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ ra lời kêu gọi: "Tất cả đồng bào, già, trẻ, trai, gái hãy cầm vũ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược!".


Trên tư thế người dân nước độc lập, với khí thế quật cường sục sôi nhiệt huyết của những ngày Tổng khởi nghĩa vừa diễn ra chưa đầy một tháng, nhân dân Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ đã nhất tề đứng lên kháng chiến!


Đồng bào cả nước và Việt kiều ở nước ngoài sôi sục căm thù, một lòng hướng về Nam Bộ, hết lòng chi viện Nam Bộ kháng chiến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư "gửi đồng bào Nam Bộ":

"... Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ.

Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà.

Tôi chắc và đồng bào đều chắc rằng những người và những dân tộc yêu chuộng bình đẳng tự do trên thế giới đều đồng tình với chúng ta.

Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.27).


Theo lời kêu gọi cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một phong trào Nam tiến đã bùng lên, vô cùng sôi nổi, rộng khắp ở Bắc Bộ và cả trong Việt kiều ở nước ngoài. Nhiều nơi, nhân dân họp mít tinh, tuần hành, giương cao khẩu hiệu xin Chính phủ cho vào Nam Bộ đánh giặc, ở Hà Nội và các thành phố, thị xã đều có "Phòng Nam Bộ"; trên các đường phố có bàn ghi tên những người tình nguyện vào Nam Bộ chiến đấu.


Ngay trong đêm 23 tháng 9, Bộ Tổng tham mưu điện khẩn vào Chiến khu 5, Chiến khu 6 là địa bàn gần Nam Bộ nhất yêu cầu đưa ngay lực lượng vào chi viện cho Sài Gòn. Hai ngày sau (25-9), một đơn vị giải phóng quân Ba Tơ (Quảng Ngãi) hành quân vào đến cầu Bình Lợi (Sài Gòn). Ngày 26, chi đội 3 giải phóng quân làm lễ xuất phát từ ga Thanh Hóa. Tiếp đó, các chi đội Vi Dân, Thu Sơn, Hoa Lư (chi đội Độc lập 1), Bắc Bắc... là các đơn vị (tương đương trung đoàn) vũ trang tập trung, trang bị mạnh của Bộ và các địa phương lên đường Nam tiến. Nhận được điện, công văn có đóng dấu "hỏa tốc" của Trung ương, các chi đội giải phóng quân, các tỉnh, các trường quân chính đều khẩn trương chọn những cán bộ và vũ khí tốt, tổ chức các đội quân Nam tiến và gấp rút lên đường. Khẩn trương hơn nữa, đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng lên Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên; xuống Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định... cùng lãnh đạo các địa phương, tổ chức và đôn đốc các đơn vị Nam tiến. Ga Hàng Cỏ (Hà Nội), đặc biệt là ga Nam Định và ga Ninh Bình trở thành nơi tập kết, là điểm xuất phát của các đoàn quân từ các tỉnh Bắc Bộ Nam tiến. Từ Thanh Hóa trở vào, tàu đến ga nào, nhất là các ga Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi... ở đâu cũng có đông đảo nhân dân địa phương mang quà bánh ra úy lạo, hát vang các bài ca cách mạng, khích lệ và tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sĩ lên đường Nam tiến. Nhiều chi đội đã được bổ sung từng trung đội, đại đội, hoặc nhiều thanh niên nam và nữ khỏe mạnh, hăng hái của các địa phương ngay trên đường hành quân.


Cùng với phong trào hướng về Nam Bộ, chi viện Nam Bộ, tổ chức các đơn vị vũ trang Nam tiến vô cùng rầm rộ ở khắp các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ, một phong trào hướng về Tổ quốc, quyên góp tiền mua vũ khí tốt, động viên con em gia nhập các đơn vị vũ trang, tổ chức các chi đội hải ngoại, cứu quốc quân hành quân gấp về Nam Bộ tham gia chiến đấu củng phát triển sôi nổi trong Việt kiều ở Lào, Thái Lan, Cam-pu-chia. Nhiều Việt kiều ở Pháp, trong đó có những trí thức giỏi tình nguyện về nước tham gia kháng chiến.


Nam tiến, không chỉ có nghĩa tiến vào phía Nam của các chi đội giải phóng quân lên đường từ Bắc Bộ và Trung Bộ mà còn có nghĩa tiến về Nam Bộ của các chi đội Hải ngoại từ nước ngoài. Đó là phong trào hướng về Nam Bộ, chi viện tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải cho Nam Bộ và cùng Nam Bộ kháng chiến của đồng bào, chiến sĩ cả nước và Việt kiều.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7290



WWW

Phong trào Nam tiến 1945-1946« Trả lời #9 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2021, 09:36:32 am »
Cho đến nay, vẫn chưa và thật khó có thể xác định chính xác đã có bao nhiêu đơn vị, bao nhiêu chi đội Nam tiến. Nhưng qua những sự kiện đã được lịch sử ghi lại, qua những dấu ấn không thể phai mờ trong nhân dân các địa phương trên cả nước, nhất là ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, cùng những kỷ niệm vô cùng sâu sắc của hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đã lên đường Nam tiến hơn 50 năm về trước, nay nhiều người vẫn còn sống, còn nhớ và kể lại, viết lại thì có thể khẳng định, Nam tiến là một sự kiện lịch sử hào hùng, một hiện tượng vô cùng đặc sắc của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.


1. Đó là phong trào yêu nước, chống xâm lược, hướng ra mặt trận, hành quân ra mặt trận, cổ vũ các đoàn quân và chi viện vật chất ra mặt trận vô cùng sôi nổi, mạnh mẽ, rộng khắp của toàn dân Việt Nam, cả ở trong nước và ở nước ngoài. Đó là kết tinh của tinh thần quật cường trước họa xâm lăng, thà hy sinh tất cả, chứ quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ của toàn dân Việt Nam. Biểu hiện cụ thể của nó là phong trào tình nguyện vào và (từ nước ngoài) về Nam Bộ chiến đấu của hàng vạn thanh niên nam và nữ, được tổ chức thành các đơn vị Nam tiến và hành quân ngay ra mặt trận dưới sự lãnh đạo của Đảng; là phong trào toàn dân hướng về Nam Bộ, hăng hái động viên con em vào bộ đội, ủng hộ vật chất, khích lệ tinh thần các chiến sĩ lên đường Nam tiến đánh giặc cứu nước. Phong trào bùng nổ ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi thực dân Pháp nổ súng ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai và kéo dài sang năm 1946 khi chiến sự lan rộng ra các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, các đoàn quân Nam tiến hòa vào lực lượng tại chỗ, cùng quân và dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến lâu dài.


2. Bắt nguồn từ tinh thần yêu nước, ý chí quật cường chống ngoại xâm của dân tộc, phong trào Nam tiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ, do cấp ủy đảng và chính quyền nhân dân vừa được thành lập ở các địa phương phát động, tổ chức và lãnh đạo. Được toàn dân hưởng ứng và không ngừng tiếp sức, phong trào đã phát triển rất nhanh chóng, ngày càng sôi nổi trên cả nước, từ thành thị đến nông thôn, miền xuôi đến miền ngược, trong nước và ngoài nước. Nhờ phân tích chính xác tình hình, có dự liệu từ sớm, ngay sau khi tiếng súng kháng chiến ở Nam Bộ bùng nổ, Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ và các địa phương đã cử ngay các đơn vị vũ trang tập trung vừa được hình thành và phát triển trước và trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám lên đường, đồng thời gấp rút lựa chọn những thanh niên ưu tú, chọn những vũ khí tốt nhất để thành lập thêm nhiều đơn vị mới, nhanh chóng tổ chức cho các đơn vị này hành quân ra mặt trận. Phần lớn học viên khóa 4 và khóa 5 Trường quân chính Việt Nam được điều vào Nam Bộ, hòa trong các đoàn quân Nam tiến, vừa kịp thời tăng cường cán bộ quân sự - chính trị cho các mặt trận, vừa có thêm cán bộ, giáo viên để mở các lớp huấn luyện tại chỗ, góp phần giải quyết khó khăn rất lớn do thiếu cán bộ quân sự, chính trị khi cuộc kháng chiến bùng nổ và ngày càng lan rộng, nhất là trong tình hình khá phức tạp về tổ chức và chỉ huy của các lực lượng vũ trang ở Sài Gòn và Nam Bộ những ngày đầu kháng chiến.


3. Khi thực dân Pháp xâm lăng, nhân dân Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ đã kiên quyết đứng lên kháng chiến. Có cuộc kháng chiến ở Sài Gòn và Nam Bộ mới có phong trào Nam tiến. Được phong trào Nam tiến cổ vũ, được các đoàn quân Nam tiến tiếp sức, nhân dân và các lực lượng vũ trang Sài Gòn, Nam Bộ và Nam Trung Bộ có thêm sức mạnh, càng quyết tâm và anh dũng chiến đấu. Cuộc kháng chiến anh dũng ở Nam Bộ và Nam Trưng Bộ lại tiếp thêm sức mạnh, cổ vũ tinh thần, tạo chỗ đứng và chiến đấu cho các đoàn quân Nam tiến trong thế trận toàn dân kháng chiến. Đó là hình ảnh sống động của toàn dân và cả nước đứng lên chống xâm lăng, dù kẻ thù đến từ hướng nào, chiến sự bắt đầu bùng nổ ở vùng đất nào. Nhân dân cả nước, các đoàn quân từ Bắc Bộ, Trung Bộ từ hải ngoại đều coi Nam Bộ "là máu cửa máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam", phải "trút toàn lực vào đó, hy sinh hết thảy vì kháng chiến, hy sinh hết thảy vì mặt trận miền Nam!". Nhân dân Sài Gòn, Nam Bộ và Nam Trung Bộ đón các chiến sĩ từ Hà Nội, Cao Bằng, Lạng Sơn; từ Vinh, Huế, Quảng Ngãi; từ Lào, Thái Lan, Cam-pu-chia... Nam tiến, như đón những người con về với gia đình, cùng nhau chung vai sát cánh chống kẻ thù xâm lược đất nước mình; bảo vệ quê hương, gia đình mình. Đó là hình ảnh sống động của Trung - Nam - Bắc là một nhà. Hơn 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ, đất nước bị chia thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau. Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám đã đập tan xích xiềng nô lệ, khôi phục độc lập, lập nên chính quyền nhân dân thống nhất trên cả nước. Phong trào Nam tiến chống xâm lược của toàn dân và cả nước ngay sau đó đã góp phần củng cố thành quả của Cách mạng tháng Tám, xóa bỏ vĩnh viễn chế độ chia để trị của thực dân, khẳng định sự thống nhất tuyệt đối: nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một!


4. Các đoàn quân Nam tiến đã kịp thời chia lửa với quân và dân Sài Gòn, các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cùng tiến công và ngăn chặn quân Pháp xâm lược trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến. Chi đội 3 giải phóng quân vào đến cầu Bình Lợi (Sài Gòn). Một số phân đội vào đến các tỉnh đồng bằng Nam Bộ. Các chi đội Vi Dân, Thu Sơn, Bắc Bắc... vào chiến đấu ở Phan Thiết, Nha Trang, Phú Yên, Buôn Ma Thuột... Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân, các chi đội Hải ngoại từ Lào, Thái Lan, sau cuộc hành quân vô cùng gian khổ và anh dũng đã về đến Tây Ninh, Châu Đốc, Hà Tiên và các tỉnh Khu 9. Ngoài một số cán bộ, đảng viên đã được rèn luyện trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám, đã học qua một số lớp quân chính ngắn ngày và một số cựu binh yêu nước, đi theo cách mạng, lực lượng đông đảo nhất trong các đoàn quân Nam tiến là thanh niên học sinh. Tràn đầy nhiệt huyết, tình nguyện xung phong vào Nam đánh giặc, nhưng hầu như chưa hiểu biết gì về quân sự, vũ khí trang bị lại rất thiếu thốn, thô sơ. Nhưng trên khắp các mặt trận, các chi đội Nam tiến, các chiến sĩ Nam tiến được động viên bởi tinh thần Nam Bộ kháng chiến và được tiếp sức, được sự phối hợp của các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đã chiến đấu anh dũng trước quân xâm lược có vũ khí trang bị hiện đại hơn, góp phần, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, làm chậm bước tiến của chúng, góp phần giữ vững và đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, tạo điều kiện cho cả nước có thêm thời gian chuẩn bị trước khi bước vào toàn quốc kháng chiến. Với tổ chức chặt chẽ, cán bộ và chiến sĩ một lòng quyết chiến, các chi đội Nam tiến được lãnh đạo chỉ huy các mặt trận, các tỉnh tin tưởng, coi như đơn vị vũ trang nòng cốt của địa phương, được giao trọng trách trên các hướng quan trọng và chia lực lượng đi nhiều hướng, chặn đánh quân xâm lược. Một số đơn vị vào đến Nam Trung Bộ vào lúc quân Pháp đã đánh rộng ra các tỉnh Phan Thiết, Phan Rang, Nha Trang, Buôn Ma Thuột... Có đơn vị bộ đội hải ngoại đặt chân về tới Tổ quốc khi địch đã đánh chiếm phần lớn các tỉnh Nam Bộ. Trong tình thế rất khó khăn, mặt trận bị vỡ, có đơn vị tạm thời mất liên lạc với trên, có đơn vị bị địch tập kích bất ngờ, lực lượng bị tổn thất, nhưng không ai nao núng, bàn lùi. Địch chiếm được tỉnh lỵ, nhưng không chiếm được lòng dân. Mặt trận bị vỡ nhưng bộ đội và lòng dân không vỡ. Với niềm tin sắt đá kháng chiến nhất định thắng lợi, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân và các đơn vị bạn, các chi đội Nam tiến đã vượt lên mọi khó khăn thử thách, kiên cường bám trụ, cùng quân và dân các địa phương tiếp tục chiến đấu. Một số cán bộ, chiến sĩ tình nguyện ở lại địa phương, hòa vào dân để xây dựng cơ sở, đánh du kích trong vùng tạm bị địch chiếm. Một số đơn vị được trên điều động, làm nòng cốt cùng với lực lượng vũ trang địa phương xây dựng thành các tiểu đoàn, trung đoàn chủ lực của tỉnh và liên khu. Trong và cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, phong trào Nam tiến, các chi đội Nam tiến đã hòa vào, trở thành một bộ phận của lực lượng vũ trang và phong trào kháng chiến ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Cam-pu-chia. Nhiều cán bộ, chiến sĩ Nam tiến đã trở thành cán bộ quân sự, chính trị ở các cơ quan, đơn vị vũ trang tập trung và ở các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ. Với phong trào Nam tiến, quân đội ta đã thực hiện thắng lợi chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Người quyết định thành lập đội quân chủ lực đầu tiên - Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân: "đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam". Sau bước phát triển nhảy vọt và được tôi luyện trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám, trong phong trào Nam tiến năm 1945-1946, quân đội ta đã tiếp tục phát triển lên một quy mô mới, rộng khắp và thống nhất trên cả nước, đã có thể tổ chức những đơn vị cơ động trên cả ba miền Bắc - Trung - Nam, cùng nhân dân và lực lượng vũ trang tại chỗ chiến đấu chống quân xâm lược.


Từ sau ngày cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các đơn vị vũ trang từ Bắc Bộ, Trung Bộ, và từ Hải ngoại về Nam Bộ chiến đấu những tháng cuối năm 1945 và năm 1946, không còn gọi là các đơn vị, các chi đội Nam tiến nữa. Nhưng trong lịch sử Việt Nam năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bộ đội Nam tiến, phong trào Nam tiến đã ghi lại một dấu son chói lọi. Trước họa xâm lăng, cả dân tộc Việt Nam đã đứng lên chiến đấu. Tinh thần quật cường của toàn dân Việt Nam một lần nữa lại bùng lên sau những ngày quật khởi Cách mạng tháng Tám. Cùng với Nam Bộ kháng chiến, phong trào Nam tiến đã tạo nên sức mạnh mới, niềm tin mới, động viên cao độ tinh thần và lực lượng của toàn dân, của cả nước vững bước tiến vào cuộc kháng chiến trường kỳ, nhất định thắng lợi.


Phong trào Nam tiến diễn ra cách đây đã hơn 50 năm. Rất nhiều vấn đề đã và đang được đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục sưu tầm tư liệu, nghiên cứu sâu sắc hơn, dựng lại bức tranh hoàn chỉnh, sinh động hơn về phong trào này. Đánh giá cao vai trò và ý nghĩa rộng lớn cửa phong trào Nam tiến trong lịch sử, chúng ta càng trân trọng những bài học sâu sắc của nó, trước hết là bài học đoàn kết thống nhất toàn dân, phát động và tổ chức toàn dân trong một phong trào, nhằm một mục tiêu chung, giải phóng dân tộc (trước đây) cũng như công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn