VĂN CẬN - NGƯỜI GIỮ HỒN ÂM NHẠC GIỮA BOM ĐẠN CHIẾN TRANH
Trên dải đất miền Trung gió Lào cát trắng, Quảng Nam – Đà Nẵng từ lâu được biết đến như vùng “địa linh nhân kiệt”, nơi sinh ra bao con người kiên trung, bất khuất trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Giữa mảnh đất nắng gió ấy, thời hoa lửa đã hun đúc nên những con người đẹp đẽ đến kỳ lạ, trong đó có nhạc sĩ – liệt sĩ Văn Cận, người nghệ sĩ trẻ gửi trọn tuổi xuân cho âm nhạc và kháng chiến.
Nhạc sĩ Văn Cận - tên thật là Võ Văn Hòa - sinh năm 1928 tại thành phố Đà Nẵng và hy sinh năm 1968 tại Gò Nổi - quê cha, vùng đất nằm giữa hai dòng Thu Bồn và Bà Rén, nổi tiếng với những biền dâu xanh ngát và những điệu dân ca đã nuôi dưỡng tâm hồn ông từ thuở nhỏ. Vì vậy, âm nhạc của ông luôn bắt nguồn từ lời ăn tiếng nói mộc mạc, từ vốn dân ca, ca dao của đất Quảng. Bút danh “Văn Cận” cũng ra đời từ hình ảnh quen thuộc của một người nghệ sĩ dong dỏng cao, đeo kính cận dày, đọc vè, hô bài chòi, ngâm thơ trong những buổi biểu diễn quần chúng.
Từ rất sớm, Văn Cận đã sống một cuộc đời sôi nổi của một nghệ sĩ cách mạng: làm bất cứ việc gì, sáng tác ở bất cứ thể loại nào – từ vè, hò, cho đến ca khúc, miễn sao có thể góp phần cỗ vũ phong trào đánh giặc, sản xuất. Ông tham gia cách mạng từ cuối những năm 40 và là một trong những thành viên sáng lập Hội Văn nghệ giải phóng Trung Trung Bộ (Hội Văn nghệ giải phóng Khu 5). Nhiều sáng tác của ông đã kịp ghi dấu trong lịch sử, trong đó có Hò dân công, và đặc biệt là ca khúc Đánh giặc tăng gia với lời lẽ dân dã mà sâu sắc:
“Nếu tăng gia mà không đánh giặc, thì thằng giặc nó cướp của ta
Nếu đánh giặc mà không tăng gia, lấy gì đâu nuôi quân đánh giặc?”
Năm 1955, Văn Cận tập kết ra miền Bắc, để lại người vợ trẻ và con gái nhỏ ở Quảng Nam. Nỗi nhớ quê hương, nhớ gia đình đã trở thành mạch nguồn để ông miệt mài học tập và sáng tác. Như lời kể của nhạc sĩ Trần Hồng: “Khi về Đoàn văn công Liên khu 5, Văn Cận luôn học hỏi, ghi chép công phu các điệu bài chòi, hát bội, hát sắc bùa, các điệu hò, điệu lý, các tích tuồng của các nghệ nhân lớn tuổi và ông tâm niệm sẽ cố gắng sáng tác để gửi lòng về quê hương”. Sau đó, trong thời gian cùng tổ công tác vào Quảng Bình phục vụ cải cách ruộng đất, nhiều đêm về muộn, bên cạnh rổ khoai lang nghi ngút khói, ông vẫn hăng hái nói về những dự định sáng tác và quê hương thân yêu của mình.
Cuối năm 1957, Đoàn văn công Liên khu 5 đi lao động và phục vụ ở tỉnh Vĩnh Phúc. Bên dòng sông Thao, với nỗi nhớ quê hương, nhớ vợ con xa cách, Văn Cận đã viết ca khúc hay nhất đời mình với dòng ca từ chân chất, mặn nồng: Xin gửi về Nam tấm lòng vàng đá/ Thủy chung này, nguyện giữ trọn tình quê/ Nhớ khi cắt tóc ăn thề/ Có ta có bạn tình quê mặn nồng.
Năm 1963, Văn Cận được Bộ Văn hóa cử đi học tại Học viên Âm nhạc Bắc Kinh (Trung Quốc). Sau khi trở về, ông tha thiết xin vào Nam chiến đấu và được phân công về công tác tại Hội Văn nghệ Giải phóng Khu 5. Những năm tháng ở chiến khu là thời kỳ gian khổ nhưng cũng rực rỡ nhất trong cuộc đời ông. Tuy gầy yếu, ông vẫn hăng hái tăng gia, gùi cõng và miệt mài sáng tác. Với bút danh mới Tây Nam, ông đã viết nên những ca khúc hào hùng, phải kể đến như: Giành lấy chính quyền về tay nhân dân và ca cảnh Em bé Chơ Run.
Tháng 1 năm 1968, khi đang huấn luyện Đoàn văn công tỉnh Quảng Đà để chuẩn bị phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy, Văn Cận cùng các học viên đã hy sinh trong một trận bom tọa độ do máy bay Mỹ ném xuống. Ông nằm lại nơi quê cha, giữa vùng đất mà ông hằng yêu thương.
Dẫu chỉ sống đến tuổi bốn mươi, Văn Cận vẫn kịp để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống âm nhạc cách mạng. Những giai điệu ông viết vẫn tiếp tục được hát, được nhớ, như một phần của ký ức thời chống Mỹ hào hùng. Cuộc đời và sự nghiệp ông tựa như một vì sao băng vụt sáng qua bầu trời, tuy ngắn ngủi mà rực rỡ.
Nhạc sĩ – liệt sĩ Văn Cận không chỉ là người nghệ sĩ của thời chiến, mà còn là biểu tượng của một thế hệ thanh niên Việt Nam sống có lý tưởng. Giữa thời hoa lửa, ông đã góp tiếng hát của mình thành ngọn lửa âm thầm nhưng mãnh liệt, sưởi ấm quá khứ và tiếp sức cho hiện tại.



