Văn Tiến Dũng – Chiến dịch Hồ Chí Minh: 5 ngày đêm của vị Tư lệnh trận quyết chiến cuối cùng
Sau thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng và những chiến thắng liên tiếp trên các chiến trường, thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam xuất hiện với tốc độ chưa từng có. Ngày 8/4/1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn – Gia Định, Văn Tiến Dũng được giao làm Tư lệnh, Phạm Hùng làm Chính ủy. Ngày 14/4, chiến dịch mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Trước trận quyết chiến cuối cùng, vấn đề đặt ra với Bộ Tư lệnh chiến dịch không chỉ là đánh thắng mà còn phải đánh nhanh, tập trung sức mạnh vào những mục tiêu quyết định và hạn chế tổn thất cho thành phố. Sau quá trình nghiên cứu, bàn bạc, Văn Tiến Dũng cùng Bộ Tư lệnh thống nhất cách đánh: trên từng hướng dùng lực lượng thích hợp bao vây, chia cắt và tiêu diệt lực lượng phòng thủ vòng ngoài; đồng thời tổ chức những lực lượng thọc sâu, mở đường cho các binh đoàn cơ giới tiến nhanh vào nội đô. Năm mục tiêu trọng yếu được xác định là Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát và sân bay Tân Sơn Nhất.
Để chỉ huy sát chiến trường, Sở chỉ huy chiến dịch được chuyển về Căm Xe, căn cứ tiền phương gần chiến trường. Rạng sáng 26/4/1975, Văn Tiến Dũng cùng Trần Văn Trà và một số cán bộ tham mưu xuống Căm Xe, trực tiếp theo dõi diễn biến và làm việc với các đơn vị. Từ đây, Bộ Tư lệnh chiến dịch điều hành một chiến dịch quân – binh chủng hợp thành với bốn quân đoàn và Đoàn 232, tiến công Sài Gòn từ năm hướng.
Ngày 26/4 – Mở màn
Đúng 17 giờ ngày 26/4, Chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức nổ súng. Năm cánh quân từ các hướng Tây Bắc, Bắc – Đông Bắc, Đông – Đông Nam, Tây và Tây Nam đồng loạt tiến công hệ thống phòng thủ vòng ngoài. Mục tiêu của Bộ Tư lệnh là không cho lực lượng phòng thủ có thời gian tổ chức lại thế trận, đồng thời nhanh chóng mở các hành lang để lực lượng cơ giới thọc sâu vào trung tâm.
Ngày 27–28/4 – Siết chặt vòng vây
Các cánh quân tiếp tục phá vỡ những tuyến phòng thủ bên ngoài Sài Gòn. Ở hướng Đông, Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4 phát triển về phía nội đô; các hướng khác lần lượt áp sát thành phố. Ngày 28/4, pháo binh ta đánh sân bay Tân Sơn Nhất, trong khi các lực lượng trên năm hướng tiếp tục thu hẹp vòng vây.
Đến thời điểm này, yêu cầu “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” được thể hiện bằng tốc độ tiến quân và khả năng hiệp đồng giữa các cánh quân. Bộ Tư lệnh chiến dịch phải liên tục cập nhật tình hình, xử lý những thay đổi trên từng hướng để bảo đảm các mũi tiến công có thể đồng loạt phát triển vào trung tâm.
Ngày 29/4 – Tổng công kích
Rạng sáng 29/4, các lực lượng đồng loạt tổng công kích vào khu vực trung tâm. Những đơn vị thọc sâu bắt đầu tiến theo các trục đường đã được xác định, hướng vào các mục tiêu chiến lược cuối cùng.
Đây là thời điểm phương án mà Bộ Tư lệnh chiến dịch chuẩn bị trước đó được triển khai trên thực địa: các lực lượng vòng ngoài tiếp tục tiêu diệt, chia cắt quân phòng thủ, trong khi những mũi chủ lực nhanh chóng tiến về các cơ quan đầu não.
Ngày 30/4 – Trận đánh cuối cùng
Sáng 30/4, các cánh quân tiếp tục tiến vào trung tâm Sài Gòn. Những mục tiêu trọng yếu lần lượt bị chiếm giữ. Khoảng 11 giờ 30 phút, cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.
Chiến dịch chỉ diễn ra trong 5 ngày, từ 26 đến 30/4/1975, nhưng là kết quả của một quá trình chuẩn bị, tập trung lực lượng và tổ chức hiệp đồng trên quy mô rất lớn. Với cương vị Tư lệnh, Văn Tiến Dũng cùng Bộ Tư lệnh chiến dịch đã tổ chức trận quyết chiến chiến lược cuối cùng theo phương án bao vây, chia cắt, thọc sâu và đánh chiếm nhanh các mục tiêu đầu não.
Từ Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 trên chiến trường đồng bằng năm 1951, qua Đường 9 – Nam Lào, Trị – Thiên, Tây Nguyên, đến mùa Xuân 1975, Văn Tiến Dũng đã đi qua một chặng đường dài của chiến tranh cách mạng. Ngày 30/4/1975, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc, vai trò của ông trong trận quyết chiến cuối cùng cũng khép lại một chặng đường đặc biệt: từ người trực tiếp chỉ huy những đơn vị chủ lực trong kháng chiến chống Pháp đến Tư lệnh chiến dịch quân sự cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


