Khác

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền

Hà Nội18/09/2026Đoàn Phường Thuận Hóa (Đoàn phường Thuận Hóa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau khi đánh bại được nội phản, Ngô Quyền họp các tướng để bàn kế sách. Với tài năng thao lược vượt trội, Ngô Quyền được xem là người chỉ huy thông minh nhất. Trong cuộc họp, Ngô Quyền đã được đồng hành cùng người hùng xứ Đường Lâm. Ông Lâm đã cho rằng: “Hoằng Tháo là một người vô ích, đem quân từ xa đến, quân lính mệt mỏi, nghe tin Công Tiễn đã bị giết, không có người làm nội ứng, chúng ta đã thua rồi. Nhưng quân ta vẫn còn sức mạnh, và địch đang có lợi thế về số lượng thuyền. Nếu ta không đề phòng trước thì có thể sẽ thất bại".

Trước cuộc xâm lược của nhà Hán, Ngô Quyền đã biết trước kế hoạch của chúng và nắm rõ quy luật lên xuống của sông Bạch Đằng. Sông này rộng hơn hai dặm, có nhiều nhánh sông đổ lại, với sóng cồn man mác giáp tận chân trời và cây cối um tùm che lấp bờ bến. Do vị trí địa lý, thủy triều rất ảnh hưởng đến mực nước của sông, khiến lòng sông rộng lại sâu hơn, và nước rút nhanh đến 30 cm mỗi giờ. Mực nước chênh lệch giữa lúc cao và lúc thấp có thể lên đến 2,5 - 3 mét.

Ngô Quyền đã đưa ra kế hoạch củng cố phòng thủ của mình bằng cách đóng các cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vạt nhọn đầu mà bịt sắt. Thuyền của địch khi nước triều lên, tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ nghĩa quân sẽ dễ dàng chế ngự địch. Với sự ủng hộ của nghĩa quân, Ngô Quyền cho lên rừng đẵn những cây gỗ lim vót thành cọc và đầu bịt sắt, sau đó cho lên thuyền và đóng xuống lòng sông và dọc theo hai bờ sông Bạch Đằng để cản sức tiến công của địch.

Khi nước triều lên, Ngô Quyền cho thuyền nhỏ ra khiêu chiến và rút nhanh để dụ giặc vào bãi cọc. Thuyền của địch chủ yếu thuộc vào dạng lớn, khi nước sông Bạch Đằng xuống, thuyền dễ bị mắc kẹt. Nhờ vào kế hoạch thông minh này, nghĩa quân ta đã triệt tiêu địch một cách nhanh chóng và hiệu quả. Theo nhà sử học Lê Văn Hưu, Ngô Quyền là người mưu cao và đánh cũng giỏi.

Vào một ngày cuối đông năm 938, hơn hai vạn tinh binh cầm đầu bởi Vạn Vương Hoằng Tháo đã đến Việt Nam theo đường thủy lên sông Bạch Đằng. Quân ta đã cho thuyền nhỏ bơi ra lòng sông để nhử giặc và bãi cọc. Trong khi đó, đội quân Hoằng Tháo đã hăm hở đuổi theo vào một bãi cọc ngầm mà không hề hay biết. Nhưng khi thủy triều đến và nước rút nhanh thì những chiếc thuyền địch đã bị mắc kẹt. Nhân cơ hội này, nghĩa quân Việt đã mai phục hai bên đánh giáp lá cà. Để đánh trực diện, một đội quân thủy mạnh đã được lên kế hoạch đi trên những chiếc thuyền nhỏ. Kế sách này làm đến đội quân hùng mạnh nhà Nam Hán rơi vào thế bí, cả hơn 20.000 quân bị tổn hại đến hơn một nửa, tướng cầm đầu là Hoằng Tháo cũng bị tử trận và vùi xác trong sóng Bạch Đằng Giang. Nhuệ khí của nghĩa quân được lãnh đạo bởi Ngô Quyền mạnh tới mức, quân địch đang đóng sát biên giới cũng không dám tiếp ứng.

Vua Nam Hán là Lưu Nghiễm, chỉ còn cách khóc thương con và cố gắng thu nhặt tàn quân trở về nước. Tuy nhiên, Vua Nam Hán không thể chấp nhận được thất bại và đã đổ toàn bộ tội lỗi này cho trước tước tá lang Hầu Dung với tội danh “Không làm cho tinh thần quân phấn chấn”. Dù đã chết, vị tướng này vẫn bị đối xử một cách tàn bạo tới mức, bị quật mộ, phơi thây để hả giận không thương tiếc.

Trận sông Bạch Đằng chống giặc ngoại xâm đã dành được chiến thắng oanh liệt vào cuối năm 938, điều này đã ghi dấu trong lịch sử Việt Nam một trang sử rực rỡ và đáng tự hào.

Để tưởng nhớ công lao to lớn của Ngô Quyền - vị vua tài ba và nhân vật lịch sử đầu tiên đã giúp Việt Nam xóa bỏ ách đô hộ hơn 1000 năm của phong kiến phương Bắc, trong Đại Việt sử thi của Hồ Đắc Duy có ghi chép một câu thật đầy cảm xúc: “Một chiến thắng ngàn năm để lại Sông Bạch Đằng mãi mãi thiên thu Đường Lâm xây dựng cơ đồ Ngô Vương lưu dấu để cho đến giờ”. Trận chiến lịch sử Bạch Đằng được coi là một trong những chiến thắng quân sự lớn nhất của dân tộc Việt Nam, khi đánh bại hơn 2 vạn tinh binh của quân Nam Hán. Sau chiến thắng đó, Ngô Quyền xưng vương và mở ra một thời trung hưng rực rỡ cho dân tộc. Trong sử sách, các chuyên gia sử học đã ưu ái gọi ông là “vua của các vị vua”. Dù đã trôi qua hơn 1000 năm, trận Bạch Đằng lưu danh sử sách và tiếng tăm của vị vua tài ba, sách lược vẫn là đồng thời là biểu tượng sáng ngời cho ý chí, bản lĩnh của dân tộc Việt Nam trong suốt dòng lịch sử. Nó cũng là động lực quan trọng để khơi dậy đánh thức tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc, để xây dựng đất nước hưng thịnh trong thời kỳ hội nhập. Đó là lý do tại sao, trận Bạch Đằng vẫn được nhắc đến trong những diễn văn, thơ ca và bài học lịch sử ở Việt Nam ngày nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn