Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

VÀO ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN

Sinh năm: 12-1928 Quê quán: Liên Phương, Tiên Lữ, Hưng Yên Thường trú: P.105. G6. Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân, Hà Nội Điện thoại: 043. 8544879 Thiếu tá, nguyên Trưởng phòng Tác huấn Cục TMCB. Hiệu trưởng trường Quân chinh BTL 559 Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Đường lối Quân sự, Học viện Quốc phòng

Lai Châu12/02/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đầu tháng 12 năm 1964, tôi đi theo đoàn cán bộ do anh Nguyễn Văn Nhạn, Tham mưu phó Cục Công binh Bộ Quốc phòng làm trưởng đoàn sang tây Trường Sơn nắm tình hình công tác của Trung đoàn 98.


Đoàn có đủ thành phần Tham mưu, Chính trị, Hậu cần. Riêng anh Đinh Bờn và tôi có quyết định vào nhận công tác tại Trung đoàn 98. Anh Đinh Bờn nhận nhiệm vụ Phó Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn, tôi là Tham mưu phó Trung đoàn. Tháng 12 năm 1964 cũng là mốc thời gian tôi bắt đầu vào Trường Sơn.


Không thể so sánh với những người đi tiên phong mở đường theo dãy Trường Sơn được tôn vinh là “Những người vạch lá soi đường" cùng những nguyên tắc, hành động bất đi bất dịch mà người đời không bao giờ quên: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng" nhưng tôi lại là người vô cùng may mắn được đi cùng đoàn và gặp dịp được đi thử một chặng đường ôtô mà Trung đoàn 98 vừa làm xong từ Mường Noòng đến Bạc trên hai chiếc xe vận tải loại Gatz-63 một cầu, cũ kỹ, của Tổng cục Hậu cần, mở đầu thời kỳ xây dựng đường vận chuyển bằng cơ giới phía tây Trường Sơn của Đoàn 559.


Tuy là cán bộ đi công tác ngắn ngày, nhưng chúng tôi cũng được trang bị như cán bộ đi B. Chỉ có điều không có thời gian bồi dưỡng sức khoẻ và rèn luyện thô lực. Có lệnh là tập trung tại nhà anh Nhạn, 12A Lý Nam Đế, xe đã trực sẵn, chỉ chờ chúng tôi đến là lên đường.


Chiếc Gatz - 69 đít vuông bịt kín, dọc đường không tạt ngang, rẽ dọc. Tới Vinh chúng tôi nghỉ lại trong trạm, không được ra ngoài phố.

Trên đường vào Làng Ho, đến ngầm Bang trên đường Thạch Bàn - Làng Ho1 (Sau này là một trục ngang quan trọng có tên gọi là đường 16) gặp nước to, xe con không qua được, phải nhờ chiếc xe tải cho vượt qua ngầm. Mặt ngầm quá gập ghềnh, đá xếp lổn nhổn, xe đi nghiêng ngả, chồm lên gục xuống, người tưởng như muốn văng ra khỏi xe.


Đề tài “Đi theo đường giao liên" tôi đã nghe mấy lần, đến bây giờ mới thực sự được đi trên con đường này với biết bao bỡ ngỡ ban đầu nên nhất nhất làm theo sự hướng dẫn của các đồng chí giao liên. Đoàn chúng tôi chỉ có dăm người, nhưng nhờ cái "uy” của anh Nhạn nên được ăn ở trong trạm không phải ra “bãi khách".


Nhờ được rèn luyện, chiến đấu gian khổ trong kháng chiến chống Pháp, nên dù đã gần chục năm hưởng cuộc sống hoà bình ở miền Bắc, nhưng khi trở lại chiến trường, chúng tôi đã nhanh chóng thích nghi và sẵn sàng đón nhận sư ác liệt của chiến hanh đang chờ mình.


Vượt qua mấy trạm giao liên, lương thực đù đã tiêu hao dần, nhưng có cảm giác ba lô lại càng thêm nặng. Khi tới Mường Noòng, đoàn được thông báo là sẽ đi thử bằng xe cơ giới, chặng đường do Trung đoàn 98 mới làm xong đến sông Bạc.


Hôm đó là một ngày nắng ráo trung tuần tháng 12 năm 1964, Tổng cục Hậu cần cho hai chiếc xe Gatz 63 một cầu, không mui, chở chúng tôi. Một chiếc do cán bộ Tổng cục điều khiển có cán bộ của Trung đoàn 98 đi cùng, một chiếc cho đoàn chúng tôi do anh Nhạn chỉ huy. Xe đi ban ngày, tôi thấy rõ con đường mới mở và nhận ngay ra hai điều thật giá trị:

- Thế nào là con đường quân sự làm gấp.

- Thế nào là như bị “rang cà phê”, ruột gan chúng tôi cứ như muốn lộn tùng phèo lên.

Xe đi tới đâu, dân bản gần đó chạy theo xem một cách thích thú. Gặp một dốc cao đường trơn, chúng tôi ra hiệu nhờ họ kéo lên. Đông đảo mọi người xúm vào, nắm lây dây “cáp”, lôi phăng xe lên, mạnh hơn cả kéo “tời”.


Cuối cùng chúng tôi cũng đi tới Bạc, vượt qua đoạn đường cheo leo, lắm dốc cao. Nhiều đoạn xe lao xuống dốc như không phanh, cây cối ngụy trang hai bên đường, mặc sức quật vào đầu và người chúng tôi. Còn chúng tôi cứ ôm đầu lăn như mõ trong thùng xe mà cảm nhận về con đường thử nghiệm này bằng cả năm giác quan!


Cuối tháng 12 năm 1964, tôi đến Trung đoàn bộ 98 và ngày 01 tháng 01 năm 1965 đã đi trinh sát từ Bạc vào phía trong cùng các anh Hoàng Tiến Vinh, Trưởng tiểu ban tác huấn; Nguyễn Văn Bảy, Hoàng Quỳnh, Trợ lý tác huấn; Nguyễn Xuân Quang, Trung đội trưởng Trinh sát và mấy đồng chí trinh sát. Trên đường đi, chúng tôi đã chạm ngay hai cái dốc lớn: Bô Phiên và Sê Ka Mán.


Vượt sông Sê Ka Mán, ở Hạ Lào trời vân nóng, tuy luc này đã là đầu tháng 12 âm lịch năm Giáp Thìn. Người dân nơi đây có tục xăm mặt, xăm môi để trang điểm. Cái lỗ tai to tướng chảy xệ xuống để đeo cái khuyên bằng tre, đường kính có đến 3 cen ti mét. Người “cà răng” tôi đã gặp nhiều lần, những người “căng tai” thì đây là lần đầu tiên tôi mới gặp. Thấy khách đến nhà, cô gái vội lấy chiếc khuyên tre ở trong bọc vừa nhét vào lỗ tai vừa liếc nhìn khách, vẻ e thẹn.


Trở về Trung đoàn bộ, tôi tranh thủ phổ biến kinh nghiệm trinh sát cầu đường cho anh em trinh sát, bổ sung một số kiến thức về chất độc đi-ô-xin và cách phòng tránh.

Anh Phan Quang Tiệp, Trung đoàn trưởng rất quan tâm đến tôi, một phần vì tôi mới đến đơn vị, một phần trước đây chúng tôi ở cùng cơ quan Tham mưu Cục Công binh. Anh kéo tôi đi xem xét đường bộ và đường sông từ Bạc đến Pắc Ca Don. Một cán bộ của Tiểu đoàn 3 đưa tôi đi xem các thác Hạt Vi, Chặc Cầu, Keng Lê Cao... Đó là những thác dữ, nhất là Keng Lê Cao. Muốn khai thông đường sông phải phá nhiều thác. Liệu nơi đây, trên con sông Sê Kông này, có lặp lại hình ảnh người anh hùng phá thác trên sông Nậm Na trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa?


Chuyến đi với anh Phan Quang Tiệp lần này có một kỷ niệm khó quên. Một buổi chiều tối, chúng tôi đến một bản vắng tanh, không một bóng người, nhưng lợn vẫn kêu dưới sàn nhà, gà vẫn vỗ cánh trên cành cây. Soi đèn thấy một mảnh giấy cài ở cổng bản. Nhưng chẳng ai đọc được chữ Lào nên không dám vào vì sợ bị bắt vạ. Anh Tiệp cùng một trinh sát đi tìm dân để hỏi. Hơn một tiếng sau, anh trở về thở phào và thông báo: mảnh giấy đó ghi là “Bộ đội Pathét Lào cứ vào bản nghỉ". Thế là chúng tôi yên tâm vào bản nghỉ ngơi.


Qua sự việc trên tôi nghĩ: Mình phải tìm cách học chữ Lào. May mắn là hôm đến Bản Chinh, tôi nhờ được một chuyên gia Việt Nam dạy chữ Lào. Chỉ trong hai tiếng buổi trưa tôi đã đọc được chữ. Nhưng “văn ôn võ luyện” không dùng, nên cũng chóng quên.


Tết Ất Tỵ, ngày 02 tháng 02 năm 1965, chúng tôi theo anh Tiệp sang chúc tết Tỉnh uỷ Ta Vên Oọc1 (Tiếng Lào - Ta Vên Oọc có nghĩa là mặt trời mọc, tiếng Việt gọi là tỉnh Miền Đông nay là tỉnh Se Kong). Dự liên hoan xong, tôi mệt nên về trước, mọi người nhảy “lăm vông” đến tận khuya.


Sau Tết, tôi cùng một tổ tiếp tục đi trinh sát. Chúng tôi đi lại các bản Tà Un, Sa Khôn, Chà Rế, Bản Lôi, Bản Chinh... Có hôm chỉ hai anh em, tôi và đồng chí Diệu, tới đâu trời tối thì vào bản xin ngủ nhờ.


Một lần vào bản Sa Khôn, dân sơ tán dưới khe sâu. Đêm nằm thấp thỏm nghe họ nói mà không thể hiểu được, cứ nhìn nhau bằng một thứ ngôn ngữ riêng. Chẳng ai đoán được điều gì sẽ xảy ra với mình. Sáng dậy ra khỏi bản lại nghĩ rằng có khi chạm trán với biệt kích tối qua cũng ngủ nhờ trong bản mà không biết lại còn “sa ma khi”2 (Samakhi: Đoàn kết) cũng nên. Một lần khác, trời tối chúng tôi tạt vào vạt rừng mắc võng ngủ, suýt nữa toi mạng với mấy chú voi.


Những ngày ở Trung đoàn 98 là một chuỗi ngày đi trinh sát. Chỉ gần ba tháng trời tôi đã gặp rất nhiều gian nan, trắc trở. Có lúc thấy lẻ loi trên đường, nhưng so với những đội trinh sát đi trước của các anh Nguyễn Văn Bền, Trần Minh, nhất là đội của anh Hoàng Đình Luyến1 (Trung đoàn trưởng Trung đoàn Rạng Đông) đã đi trinh sát từ Bản Đông đến Bạc làm cơ sở mở đường của Trung đoàn cuối năm 1964, thì tôi là người may mắn được thừa hưởng thành quả của người đi trước và có một hậu thuẫn lớn cho công việc của mình, đó là cả một trung đoàn đang thi công ở phía sau.


Tôi đang trên đường đi công tác thì có lệnh gọi về Cục Công binh Bộ Quốc phòng viết tổng kết.

Đầu tháng 6 năm 1965, đang ngồi viết tổng kết "Bảo đảm công trình trong chiến dịch Biên giới năm 1950 thì tôi nhận được lệnh sang Đoàn 559, trụ sở tại 63 Lý Nam Đế, để nhận nhiệm vụ.

Tôi được xung ngay vào đoàn công tác đi thị sát đường từ Phong Nha đến Vin Kà Roòng lên biên giới Việt - Lào.

- Anh Nguyễn Nam Hải, Phó Viện trưởng Viện Thiết kế, Bộ Giao thông vận tải làm Trưởng đoàn.

- Anh Phi Đình Tuân2 (Sau này anh Nam Hải là Thứ trưởng, Phi Đình Tuấn là Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Giao thông vận tải) người có nhiều kinh nghiệm khảo sát đường vùng Tây Bắc phụ trách kỹ thuật cùng một số cán bộ khác.

- Tôi, Mai Sơn, được Cục Công binh cử sang cùng đi, nhưng tôi được tổ chức giao làm Bí thư Chi bộ của đoàn công tác.

Cũng vì thế mà nhiều lúc cao hứng, nổi máu “hài” lên, Phi Đình Tuân lại "phang” cho tôi một “nhát” là Chính uỷ, một chức danh mà sau này khó tìm ra xuất xứ trong tổ chức nửa quân nửa dân lúc bây giờ.


Cầm mảnh bản đồ 1/100.000, loại bản đồ cũ của Pháp in, tôi nhận ra ngay một vùng đá vôi hiểm trở, không thể hiện đường đồng mức, chỉ có đường sông núi và những điểm cao đặc biệt. Vì có thời gian làm nhiệm vụ trinh sát công trình nên tôi cũng biêt: Đó là vùng đá vôi Kẻ Bàng, một vùng các-x-tơ (karst) điển hình nhất của miền Bắc Việt Nam, không có dòng chảy trên mặt, nhiều hang động ngầm, nổi tiếng là động Phong Nha. Nơi đây dân cư thưa thớt, có nơi từ xưa không một bóng người. Ở cửa rừng gần động Phong Nha, số dân Arem ta mới tìm được, quy tụ tại bản Tân Trạch. Cuộc sống của họ vẫn như còn ở trong hang, dùng cây que gác vào vách đá để che mưa nắng, tránh thú dữ, cứ như người nguyên thuỷ.


Đoàn chia làm hai mũi đi trinh sát:

- Một mũi đo anh Nam Hải phụ trách đi từ Khe Nét - Đoòng - Khe Tum lên biên giới Việt - Lào.

- Một mũi do anh Phi Đình Tuấn phụ trách đi từ Khe Nét - Cù Mạ - U Bò - Kà Roòng lên biên giới Việt - Lào, triển khai từ ngày 07 tháng 7 năm 1965, ngày 17 tháng 7 năm 1965 đến Vin Kà Roòng, rồi quay lại động Phong Nha. Tôi tham gia mũi trinh sát này.

Dựa vào loại bản đồ có trong tay, loại bản đồ vùng núi đá vôi không thể hiện đường đồng mức để vạch tuyến đường trước đã khó khăn, căn cứ vào đó mà xem xét trên thực địa cũng chăng dễ dàng gì.


Kinh nghiệm khảo sát đầy người như anh Tuấn còn phải chật vật với dãy núi đá vôi hiểm trở, chẳng có người dẫn đường, cùng những địa danh còn lạ lẫm Ba Thang, Cù Mạ, U Bò…” đã phải lắc đầu lè lưỡi mà kêu là “con đường hóc búa”.


Trong thời gian ngắn ngủi trên đường trinh sát, gặp hai sự kiện làm tôi liên tưởng ngay đến sự gian khổ sau này các anh trong tổ anh Tuấn sẽ phải chịu đựng:

- Duy nhất một lần gặp người dân đóng khố cởi trần len lỏi trên con đường mòn gập ghềnh đến đồn biên phòng nhờ y tá đến cấp cứu cho ông trưởng bản bị ngã trên cây xuống. Nhưng không kịp, ông đã chết trước khi y tá đến.

- Chúng tôi phải gạn nước ở một khe cạn, túm vào ni lông vác lên Cù Mạ để nấu cơm ăn tối.

Ấy vậy mà sự liên tưởng của tôi còn xa với thực tế mà các anh đã phải gồng mình lên chịu đựng trong các lần đi trinh sát tiếp theo.

Nhưng các anh đã được đền bù, tư liệu các anh thu thập được đã có sức thuyết phục, góp phần quyết định việc chọn tuyến đường này mà tác dụng to lớn của nó trong cuộc chiến chi viện cho miền Nam ruột thịt đã rất rõ ràng.


Không những thế, con đường 20 Quyết Thắng đó, ngày nay còn là điểm nhấn lịch sử trong quần thể di tích của khu du lịch sinh thái Phong Nha - Kẻ Bàng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
VÀO ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN | Câu chuyện thời hoa lửa