Bài viết

VÀO TRẬN ĐÁNH BUÔN MA THUỘT (1)

Sau những tháng ngày làm nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn Lào, nay nhận lệnh hành quân từ Cánh Đồng Chum về nghỉ ngơi củng cố tại Đô Lương - Nghệ An. Trung tuần tháng 1 năm 1975 đơn vị chúng tôi hầu hết là người Yên Bái được lệnh hành quân cấp tốc vào chiến trường miền Nam. Súng đạn và ý chí của từng cán bộ chiến sỹ trong đơn vị đã chuẩn bị sẵn sàng cho những trận đánh lớn. Rừng Tây Nguyên ngút ngàn che chở cho chúng tôi hành quân suốt đêm ngày. Đã đến nơi tập kết cuối cùng sau những ngày đêm ngồi

Lào Cai10/04/2026Hoàng Tương Lai (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đêm nay, mồng 5 tháng 2 năm 1975. Đêm không trăng, dưới vòm lá của những cây xăng lẻ cao vút, nhìn qua kẽ lá thấy sao trời nhấp nháy.

Mở chiếc đài bán dẫn nghe tin tức quê nhà ở miền Bắc, bắt gặp giọng hát then từ đài Việt Bắc hát về vui xuân đón tết. Tết sắp đến thật rồi. Đã ba cái tết xa nhà ở chiến trường. Ở nhà chắc mẹ cùng các em đã chuẩn bị gạo nếp, lá dong, không biết có ăn thịt lợn đụng ở nhà nào được không. Vừa đi xem phim về cách đánh thành phố, chuyến này chắc được đánh vào các thành phố lớn thật rồi.

Ngày 12 tháng 2: Nắng. Nắng ở đây chói chang nhưng ở dưới tán lá cây rừng vẫn mát rượi. Suối chảy rì rào, trong veo. Sáng nay được mỗi người vài chiếc kẹo cùng điếu thuốc lá. Mồng hai tết rồi. Đơn vị quán triệt việc giữ bí mật từ nơi ở cho đến hành quân sẵn sàng chiến đấu. Kẻ địch đã đánh hơi thấy sư 316 hành quân vào đây rồi.

Như vậy giờ này Tây Nguyên có tới bốn sư đoàn: gồm sư 10, sư 320, sư 968 và 316 cùng các trung đoàn độc lập. Đơn vị được lệnh sẵn sàng đánh Pleiku. Đơn vị được lệnh hành quân trong đêm hoàn toàn giữ bí mật tuyệt đối, sau nhiều đêm hành quân đơn vị dừng lại ở những vườn cà phê rộng lớn ở ĐắkLắk.

Được tin Sư đoàn 10, đêm mồng 8 rạng mồng 9 tháng 3 đã đánh Đức Lập. Căn cứ Núi Lửa và căn cứ liên đoàn 23 biệt động quân đến chiều 10 tháng 3 ta đã làm chủ.

Đêm ấy, chúng tôi được lệnh vượt sông Sê Lê Pốc để bao vây Buôn Ma Thuột. Tiểu đoàn 2 được lệnh đào hầm trú ẩn ngay trong rừng cà phê. Tháng ba, những cánh hoa cà phê trắng muốt rụng đầy gốc, cà phê ở đất đỏ ba dan này tốt thật, cây cao tán lá đan dày lấy nhau.

Bốn giờ chiều ngày mồng 9 tháng 3 năm 1975, mặt trời sắp lặn, nắng vẫn còn rực rỡ, bỗng có một trận mưa trút xuống ào ào, đơn vị ai nấy vội lấy áo mưa, thì ra nước từ những vòi bơm tự động cho cà phê cứ độ 4 giờ chiều là hoạt động. Có tý nước đất mềm, chúng tôi chỉ lấy xẻng xới nhẹ mấy lượt đã được căn hầm như ý.

Nằm trong đội hình quân đoàn 3, chúng tôi được biết sư đoàn 10 đánh Đức Lập, sư đoàn 320A đánh Thuần Mẫn nhằm kéo sư 23 của ngụy ra ứng cứu. Ta nghi binh đánh Pleiku đánh Kon Tum, nhưng không đánh.

Ta đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột kẻ địch không ngờ tới. Ta đánh thẳng vào trung tâm đầu não của địch trong thị xã, bỏ qua các căn cứ ở ngoại vi. Địch bị đòn điểm huyệt quá bất ngờ nên chúng hoang mang đến cực độ. Suốt đêm mồng 10 pháo lớn của ta “giã gạo” liên tục vào các cứ điểm của địch ở Buôn Ma Thuột.

Đơn vị hành quân truy kích địch theo đường 14 để vào thành phố. Cứ điểm Nu Ly chỉ nhận vài trái pháo của ta mà đã chạy tán loạn. Cách nửa cây số, chúng tôi nhìn rõ quân ngụy từng bầy bỏ lại súng, gạo cùng đạn các loại bên vệ đường thoát thân tháo chạy cùng vợ con mang theo lên khu gia binh. Được biết kẻ địch phá các cầu trên đường 14 để ngăn sư 316 vào Buôn Ma Thuột.

Nhưng muộn quá rồi, khi đó trung đoàn 174 do trung đoàn trưởng Đào Trọng Lịch chỉ huy từ hướng tây nam đã đánh vào thị xã được mười tiếng rồi.

Đơn vị đã vào đến thị xã lúc 2 giờ sáng ngày mồng 10 tháng 3, chúng tôi cùng đồng đội chiếm đài phát thanh Buôn Ma Thuột. Tiếng đạn pháo, tiếng súng vẫn dữ dội bên kho Mai Hắc Đế, bên sân bay Hòa Bình, được tin bên ấy các đơn vị đặc công đã giải quyết trước rồi, nhưng bộ binh tiến vào giao tranh ác liệt lắm.

Sân bay Hòa Bình là cứ điểm cuối cùng trong thành phố để chúng tháo chạy bằng đường hàng không.

Tiếng súng chống cự lúc đầu dữ dội về sau yếu ớt dần từ khu vực Đài phát thanh, chỉ sau nửa ngày chiến đấu đơn vị chúng tôi đã làm chủ căn cứ đài phát thanh. Chúng tôi được lệnh chốt lại vừa ổn định cuộc sống cho dân vừa sẵn sàng phòng địch phản công lại. Đến 11 giờ trưa ngày 11 tháng 3 sư 316 đã làm chủ thị xã chỉ còn trường bay Phụng Dực (Hòa Bình) còn chiến sự ác liệt xảy ra.Có đại đội với một trăm hai mươi cán bộ chiến sỹ khi xông lên bị pháo từ xe tăng địch hạ nòng quét lia trên mặt đất chỉ còn lại gần ba mươi chiến sỹ. Đơn vị bạn đã bắt đại tá Vũ Thế Quang và đại tá Nguyễn Trọng Luật làm tù binh lúc 2 giờ sáng ngày 12 tháng 3. Chiều 12 tháng 3 địch huy động các loại máy bay đến ném bom dọn bãi để hòng cho quân tái chiếm lại thị xã.

Chiều 15 tháng 3: chúng tôi mắc võng dưới những gốc cây vú sữa lúc lỉu quả của khu vực nhà dân. Anh em phân công nhau quét dọn sân bãi, lau chùi bàn ghế. Dân đã chạy vào rừng xa lánh đạn hết. Cửa nhà chả đóng, quần áo giày dép, gạo nước vứt tứ tung. Gần tối thấy có vài cái đầu của trẻ nhỏ ngó nghiêng vào nhà. Chúng tôi đoán chừng cha mẹ cho các cháu đến thăm dò xem nhà cửa ra sao, có bị quân giải phóng đốt hết theo như bọn chúng tuyên truyền không.

Chúng tôi vẫy tay gọi các cháu vào nhà. Thấy nhà cửa sạch sẽ, mấy con heo trong chuồng cùng đàn gà đã được các chú giải phóng cho ăn no, chuồng được quét dọn sạch sẽ. Chúng tôi vỗ về các cháu, bảo các cháu đi đón ba má về nhà đi, có chiến sỹ còn lấy tông đơ cắt bộ tóc dày rậm như tổ quạ cho các cháu. Gần tối là lần lượt các cụ già về, sau ba má của các cháu nhà nào cũng về đông đủ. Đồng chí Lân là chiến sỹ quân y của đơn vị còn lấy thuốc cùng bông băng giúp mấy cụ già bị bong gân, có cụ bị ngã xây xát hết chân tay.

Đêm ấy, không có điện nhưng chúng tôi cùng trò chuyện dưới ánh đèn dầu như một gia đình có người thân xa lâu ngày gặp lại. Có cụ hỏi: Các ông là bộ đội giải phóng hay là cộng sản? Vâng chúng con là cộng sản mà cũng là chiến sỹ giải phóng. Các cụ kiểm tra lại chậu hoa đặt ở hiên nhà. Thì ra dân giấu vàng ở đáy những bình hoa. Kỷ luật của người chiến sỹ cách mạng đã ngấm vào máu thịt của mỗi người lính, đó là không động đến cái kim sợi chỉ của nhân dân. Còn tôi thú thật lần đầu tiên trong đời nhìn thấy vàng và xếp lại những tấm vàng miếng vào lại đáy những chiếc bình hoa.

Tôi thật sự ao ước giá mình có vàng, chỉ một nửa thỏi vàng trong nửa bình hoa như thế này thôi để giúp mẹ sửa lại hai mái nhà bị dột, mua ngay chiếc áo bông cho mẹ đã rách, rồi mua sắm quần áo cho các em tung tăng cùng chúng bạn cắp sách tới trường và mua tặng người yêu chiếc khăn choàng màu tím.

Đơn vị mắc võng ở dưới những tán lá cây xanh trong vườn, trên cành lúc lỉu trái. Út Tư ra chòi vú sữa cho chúng tôi ăn. Thấy chúng tôi vẫn cầm những trái vú sữa trên tay, Út Tư như hiểu ý: ăn vú sữa mấy ảnh phải nắn bóp như vầy nè, cô cầm lấy một trái nắn bóp, chúng tôi cười khiến út đỏ mặt. Quả thật, những trái vú sữa sau khi được nắn bóp bỏ lớp vỏ chúng tôi được uống một thứ sữa vừa ngọt vừa thơm đặc sản vùng đất Tây Nguyên. Út Tư là đội phó du kích bí mật của khu phố thế mà chả ai biết.

Út kể: tại tụi lính ở đây luôn tìm cách sàm sỡ nên em phải trốn vô rừng theo mấy ảnh du kích. Tụi em đi phục kích đánh được vài trận rồi bạo dạn lên lúc nào không biết. Hôm được đi đón các ảnh thấy pháo lớn, xe tăng em mừng quá, chắc cao nguyên Trung phần đợt này được giải phóng. Út kể bữa qua cùng mấy o vô rừng tìm mấy ảnh là lính cộng hòa về, mấy ảnh mang theo lựu đạn, súng AR15 về nộp cho cách mạng, phần lớn là người Ê Đê họ được về đoàn tụ với gia đình rồi.

Tạm biệt Khu đài phát thanh của thị xã, bà con ra tiễn chúng tôi trong tình cảm thân thiết, ai cũng rơm rớm nước mắt, hẹn ngày gặp lại.

Thị xã Buôn Ma Thuột đã được giải phóng, kẻ địch tung quân đến hòng chiếm lại thị xã nhưng đều bị đánh bại. Cuộc nghi binh đánh vào thị xã Kon Tum và Pleiku đã thành công, Sư đoàn 316 do anh hùng quân đội Đàm Văn Nguỵ là sư đoàn trưởng cùng sư đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cho trận mở màn đánh Buôn Ma Thuột.

Trung đoàn 174 chúng tôi hành quân truy kích địch ở các quân lỵ Lạc Thiện, Buôn Đôn... rồi trong đội hình sư đoàn lên xe hành quân về Tây Ninh.

Hôm nay đã 27 tháng 4 năm 1975. Là người lính ai cũng muốn có mặt sớm ở Sài Gòn để chứng kiến sự sụp đổ của chế độ ngụy quyền. Gần tối, đơn vị hành quân tới bờ sông Sài Gòn, nước ở dòng sông đã hạ bởi triều rút. Lệnh vượt sông được phát ra cho toàn đơn vị. Cả đoàn quân cùng ba lô trong phao kê trước ngực lặng lẽ khỏa nước bơi đi.

Tháng tư trời oi bức ngồi trên bờ ai cũng toát mồ hôi. Giờ ngâm mình thỏa thích giữa dòng nước mà thấy mát đến cả ruột gan. Nước rút nên đôi bờ hẹp lại. Gần nửa tiếng lặng lẽ bơi trong đêm.

Mỗi chúng tôi như khắc vào tim từng câu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi đến cán bộ chiến sỹ toàn chiến dịch: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và quyết thắng”.

Ngày 28 tháng 4: Đêm qua tạm biệt xóm C Nhỏ. Út Tám - con ông chủ nhà có giọng cải lương mùi mẫn với những bài đưa tiễn đơn vị lên đường. Ai ngờ cô là du kích dẫn đường cho đơn vị tiếp cận căn cứ Đồng Dù. Đơn vị chiếm lĩnh trận địa và khẩn trương đào hầm trú ẩn ngay. Những bó cây lá hầm đã được chuẩn bị cho một tổ ba người. Đối với người lính trên chiến trường chiếc hầm trú ẩn có thể nói là chiếc áo giáp hữu hiệu nhất.

Tôi cùng Quán và Hoàn đào hầm xong giở gạo rang ra ăn và tranh thủ chợp mắt một lát. Lá ngụy trang cũng đã được đem về, anh em rải ra ngay trên nóc hầm để nằm. Quán nói: Lai hói (biệt danh của tôi) nhỏ người vào nằm giữa đi. Tiếng pháo của địch bắn ra từ căn cứ rít qua đầu chúng tôi. Tiếng hô đổi gác của bọn ngụy từ căn cứ vọng ra nghe khá rõ. Cả ba chẳng ngủ được cứ đem chuyện quê ra mà kể.

Quán là chính trị viên phó của đơn vị, lúc tôi và Hoàn đào hầm anh đã đi một vòng kiểm tra đơn vị. Anh kể về đất đồi cọ rừng chè Phú Thọ quê anh, kể về đợt về phép hồi tết năm ngoái vợ anh đã cho anh thằng cu đầu lòng để nối dõi tông đường vì cả dòng họ anh là con trai duy nhất.

Quê Hoàn ở Thanh Hóa, anh mong hết chiến tranh về cùng Tuyết người yêu tiếp tục học đại học y.

Mờ sáng cả đơn vị đã lo ngụy trang kín đáo. Được biết đơn vị nằm đây là để vây ép, đánh chặn, tạo điều kiện cho sư đoàn bạn tấn công vào sào huyệt của sư 25 ngụy ở Đồng Dù. Mặt trời vừa ló lên là các loại đạn pháo trút xuống như “giã gạo” trên đầu đơn vị. Ngồi trong hầm mà như trên chiếc chảo rang ngô. Ngớt pháo cả ba ra khỏi hầm, một quả pháo khói nổ bụp cách hầm chúng tôi khoảng trăm mét. Có tiếng gầm rít của thằng phản lực lao xuống ném bom.

Vừa chụp chiếc mũ cối vào đầu thì Quán đã đẩy tôi xuống hầm trước, Hoàn vơ túi cứu thương vào sau. Nghe tiếng rít xé gió của bom, tôi vội bịt tai há miệng rồi “huỵch” tiếng nổ và tiếng rung của đất rất nặng. Tôi nghe rõ tiếng ú ớ của Hoàn kêu cứu.

Tôi cố dùng hết sức để vùng dậy, nhưng tuyệt vọng. Thôi thế là hết, nếu không có ai đến cứu mình. Như có ngàn tiếng chuông đang rung bên tai. Khó thở quá. Tôi bắt đầu quên đi và bỗng thấy mẹ mình cùng các em cả người yêu đứng trên quả đồi cao vẫy mãi mà tôi không tài nào lê bước lên được...

Cảm tưởng như có ai xốc nách rồi gọi tên mình. Mãi sau mới nhận ra anh Thiện giọng khàn khàn, cả tiếng của Quyền nữa. Cố nhớ lại. À đúng rồi mình bị bom. Nhưng đây là đâu nhỉ? Tôi ngơ ngác nhìn quanh như rơi xuống một nơi xa lạ. Sau hai mũi tiêm tôi tỉnh dần.

Tôi hỏi Lân y tá: Hoàn và Quán đâu? Hai anh nằm kia. Nhìn hai anh quấn tăng nằm đấy tôi biết hai anh không còn nữa. Định đứng dậy đến chỗ hai anh nhưng chân khuỵu xuống. Tôi sững sờ, hai anh to khỏe thế mà không còn nữa, còn tôi mảnh mai thư sinh thế mà sống.

Anh Lân dìu tôi bò dưới làn đạn của địch đi về tiểu đoàn bộ. Tôi tỉnh hẳn. Từ căn cứ địch tập trung hỏa lực cùng bộ binh tấn công ra mở đường rút. Tôi hiểu đơn vị mình ém quân ở đây là chặn đường rút của địch. Có thêm vài đồng đội nữa bị thương được đưa về cùng hầm. Địch bị ta đánh lui, nên hò hét các loại cối pháo bắn cấp tập về phía ta. Khói bụi mịt mù, tiếng nổ chát chúa của cối pháo, tiếng đạn thẳng đan nhau chiu chíu trên nóc hầm. Sẩm tối tôi cùng đồng đội bị thương được đưa ra tuyến sau.

Ai ngờ viện dã chiến đặt đúng nhà cha con Út Tám mà đêm trước tôi cùng Hoàn, Quán vừa ở đấy. Út Tám đưa từng thìa cháo ninh thịt bò vào miệng tôi - chả là bom đạn làm chết rất nhiều bò của dân. Út lặng đi, mãi mới kể được về Quán và Hoàn: mãi tối bọn em mới khiêng bằng võng hai anh ra tuyến sau.

Bọn ngụy phục kích bắn chết hai nữ du kích cùng hai người khiêng cáng đi sau bị thương. Tụi em đặt mộ bốn người cạnh nhau.

Tin Đồng Dù đã giải phóng tôi thấy khỏe hẳn, gửi hai chiếc ba lô của Quán và Hoàn cho Út Tám đem xuống hầm cất, tôi đem nhật ký ra ghi và sắp xếp lại quân tư trang sẵn sàng tìm về đơn vị.

Ngày 30 tháng 4: Từ nửa đêm tiếng pháo vẫn nổ từng chập xa xa, chớp lóe lên sáng rực cả một góc trời.

Tám giờ sáng Út Tám trong bộ đồ đen du kích vai khoác khẩu Các Bin hớt hải chạy về báo tin: các cánh quân theo lộ 1 từ Tây Ninh tiến vô Sài Gòn đông lắm. Em mắc kẹt không theo mấy ảnh vô Sài Gòn được! Mắc kẹt làm sao em? Út Tám nói vội: chị hai em đau đẻ!

Tôi buột miệng: trời ơi, ai lại đẻ vào giờ này. Chị Hai em có chồng là trung úy ngụy, mà trung úy quân giải phóng cài vào hàng ngũ địch, giờ đang dẫn đại quân ta vô Sài Gòn. Tôi vội xách ba lô, Út trao khẩu Các Bin cùng 3 ba băng đạn lên vai, tôi chạy ra đường lớn đón xe.

Út còn chạy theo đưa vào cánh tay trái tôi tấm băng có in cờ giải phóng. Những chiếc xe chở đầy bộ đội cắm cờ đỏ sao vàng, cờ giải phóng nhằm hướng Sài Gòn mà thẳng tiến. Tôi vẫy và leo được lên xe, chẳng kịp hỏi các đồng chí ở đơn vị nào. Xe chạy trong lửa khói, mặc đạn AR15 của địch vẫn đan chiu chíu trên đầu. Hai bên đường xe bọc thép, xe lớn xe con, quần áo rằn ri của địch vứt lại thành đống. Mặc.

Quân ta những đoàn xe vẫn thẳng tiến. Cờ đỏ sao vàng, cờ nửa đỏ nửa xanh rợp trời. Thật vui hết chỗ nói.

Những chiếc xe tăng của quân ta mở đường, xe chở bộ đội theo sau. Gần trưa, xe chạy đến cổng dinh Độc Lập thì dừng lại, đơn vị bạn đã đánh chiếm được dinh rồi. Nhìn lá cờ giải phóng bay phần phật trên nóc dinh thật vui sướng mà nước mắt lại trào ra.Khoảng mười một giờ hơn thấy một chiếc Jeep có mấy đồng đội đi ra, trên khung kính phía trước xe có ảnh Bác Hồ và dán cờ giải phóng. Một người cao lớn bước lên, sau tiếng “rầm” của cánh cửa xe khép lại, xe lao đi.

Tôi hỏi đồng đội và được biết: đó là Minh lớn (tức tổng thống Dương Văn Minh). Buổi trưa hôm ấy từ chiếc đài bán dẫn vang lên lời của tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. Tôi cùng đồng đội leo lên dinh, bắt gặp bảng kê thực đơn bữa ăn của tổng thống. Trong thực đơn các món ăn sơn hào hải vị tôi đều biết, duy có món là tôi chưa được biết.

Tôi hỏi đồng đội: Sâm banh là món gì nhỉ? Một đồng đội chạy đi lên tầng trên của dinh cầm về một chai sâm banh. Anh xóc rồi bật nút. Nút chai bắn lên trần dinh, tôi cùng mấy đồng đội ngửa cổ uống những giọt sâm banh trong niềm vui chiến thắng rồi ôm lấy nhau chưa kịp hỏi tên đã phải tạm biệt nhau tìm về đơn vị.

Chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Đơn vị cũng tổn thất không nhỏ.

Nằm trong đội hình quân đoàn 3 tham gia chiến dịch Tây Nguyên, đơn vị đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột.

Đơn vị hành quân tham gia cánh quân phía tây bắc Sài Gòn đánh Trảng Bàng, Bến Cát, Đồng Dù...vv.. Kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh quân số vợi đi nhiều.

Phần hy sinh, phần bị thương phải nằm điều trị ở các bệnh viện dã chiến.

Ngày 15 tháng 5 năm 1975, đơn vị tổng kết chiến dịch cũng là ngày đón các vị lãnh đạo từ Hà Nội vào dự lễ diễu binh mừng ngày chiến thắng.

Trong bộ trang phục mới tinh, cùng đồng đội bồng súng đứng trên xe chạy chầm chậm qua trước lễ đài ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đang đọc diễn văn, cạnh đấy là Đại tướng Văn Tiến Dũng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước vừa bay từ Hà Nội vào.

Thấy mình thật tự hào hãnh diện và thật vinh quang, song ai cũng bùi ngùi nhớ lại mỗi chặng đường hành quân từ Đô Lương, Nghệ An vào Kon Tum, Pleiku rồi ĐắkLắk, Buôn Ma Thuột rồi Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay.

Ký ức mỗi trận đánh, nhớ từng đồng đội đã hy sinh anh dũng.

Các đồng đội ấy má còn phinh phính lông tơ, trên túi áo ngực còn giữ lá thư của mẹ, của người yêu ở quê nhà gửi theo mỗi chặng đường hành quân.

Hôm nay, được thay mặt bao đồng đội đi dưới lễ đài giữa biển người và cờ hoa rợp trời, lòng trào dâng bao niềm vui khó tả mà nước mắt lại trào ra...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn