VÀO TRẬN ĐIỆN BIÊN
Đoạn hồi ức là góc nhìn chân thực, mộc mạc của một người lính cối 60 thuộc Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174 về hành trình từ những ngày "mưa dầm cơm vắt" đến giờ phút chiến thắng tại Điện Biên Phủ. Qua lời kể, độc giả thấy được sự khốc liệt của chiến trường nơi bùn nước lõng bõng bám chặt thân mình, nỗi đau khi chứng kiến đồng đội hy sinh dưới làn bom đạn, và tinh thần quả cảm của tổ bắn tỉa, tổ cối trên đồi Cháy trước sức ép rung chuyển của khối bộc phá 1.000kg. Không chỉ dừng lại ở tiếng súng, đo
Đơn vị chúng tôi bám sát địch ở phía bắc Điện Biên Phủ. Quả là một cứ điểm mà trong suổt chín năm qua chưa có một vị trí nào lớn như thế. Ban ngày thì xe pháo quần đảo rầm rập, đêm thì điện sáng khắp các đồn bốt, trông xa tưởng như một thành phố. Hàng ngày, thỉnh thoảng trận địa pháo Hồng Cúm lại bắn lên các vùng rừng núi mà chúng nghi ngờ, máy bay Dacota lên xuống sân bay cả ngày lẫn đêm.
Thế rồi một buổi chiều, chúng tôi được lệnh chuẩn bị tiến công. Trời vừa tối thì xuất kích. Đi độ một cây số thì xuống đến cánh đồng. Ruộng cạn, đất khô nẻ nhưng còn ẩm, đào công sự dễ dàng. Dàn trận địa xong, tất cả đã đào xong hố nằm thì lại có lệnh rút quân, cả đơn vị lại trở về nơi trú quân trước khi xuất phát. Từ đánh nhanh thắng nhanh ta đã chuyển sang hướng lâu dài.
Thế là bắt đầu phá đá mở đường để đưa pháo vào các trận địa trên sườn núi cao. Đơn vị tôi vừa làm xong một hầm pháo đầu tiên thì tôi được lệnh trở về tiểu đội cối 60. Tôi vừa ra khỏi chỗ làm việc độ bốn chục mét thì một chùm pháo rơi trúng vào chỗ trung đội đang tập hợp. 19 đồng chí đã hy sinh tại chỗ. Một hòn đá lăn vào lưng làm tôi đau ê ẩm mấy hôm mới khỏi.
Khi tất cả pháo của ta đã chiếm lĩnh xong trận địa thì bộ binh mới đào hào từ ven rừng ra cánh đồng, hướng vào các vị trí địch. Ban đêm ta đào, ngày địch ra lấp. Chúng còn gài mìn các loại vào chỗ ta đã đào. Đại đội trưởng Trứ đã hy sinh vì một quả mìn cóc địch gài.
Một hôm khác máy bay địch phóng bom đúng vào sườn đồi nơi đơn vị đóng quân. Bốn hầm trú ẩn bị vùi lấp. Trung đội 2 bị hy sinh mất tám người.
Địch thường xuyên bắn phá vào khu vực ta đào và tấn công ra cản phá. Bây giờ đào đến đâu phải bố trí giữ đến đó.
Ta bắt đầu đánh Him Lam, Độc Lập và Bản Kéo. Rồi tiểu đoàn 251 của tôi được lệnh đánh A1.
A1 là một chốt quan trọng của Điện Biên nên chúng tôi cảm thấy tự hào lắm. Song đêm đánh A1 đến tận sáng hôm sau vẫn không giải quyết được. Tiểu đội trưởng của tôi chẳng biết làm sao lại đút tay vào bàn đế khẩu cối 60 để toác cả tay, không thể chiến đấu tiếp được.
Không thể không đánh thắng A1. Bộ chỉ huy chiến dịch cho đơn vị chủ công của Đại đoàn 308 vào công kích. Chúng tôi mừng lắm vì có lực lượng của đơn vị bạn về phối hợp. Suốt cả đêm hôm ấy vật lộn mà cũng không chiếm được A1. Sau mới phát hiện A1 có hầm ngần kiên cố. Công binh ta đào một đường hầm xuyên trong lòng đất vào phía dưới hầm ngầm.
Tiểu đội tôi được lệnh đưa hai khẩu cối 60 lên Đồi Cháy để bắn vào A1 và chặn địch lấn ra. Tiểu đội phó Trần Quý dẫn anh em lên chiếm lĩnh trận địa.
Chúng tôi nhận mấy nắm cơm nguội ngơ nguội ngắt, ăn với muối vừng. Tranh thủ ăn, vừa xong thì địch đã bắn cối và đại bác khắp khu vực quanh trận địa. Ăn uống xong chúng tôi trả lời bọn chúng bằng một loạt đạn cối 60. Tôi nghĩ bụng thế nào chúng mày cũng giã tao, tao phải giã chúng mày trước.
Quả là như vậy. Một tốp máy bay bỗng ào đến trút bom xối xả xuống đồi Cháy, đất cát bụi mù. Ngồi trong hầm chúng tôi cứ lắc đi lắc lại, như ngồi xe tải đi đường ổ gà, tai ù dặc.
Đợt đánh bom thứ hai trong ngày có vẻ dữ dội hơn. Tuy nhiên trận địa vẫn an toàn, chỉ có một người khóc hu hu, anh đã ta dao động trong chốc lát.
Đêm hôm ấy, tôi được đề bạt tiểu đội phó rồi rút về bổ sung cho xung kích để chống địch lấn ra phía bản Cò Mỵ.
Thời gian này dưới hào lõng bõng bùn nước. Cứ mỗi lần đi làm nhiệm vụ về phải ngồi một lúc cho bùn se lại, nứt ra mà bẻ từng miếng một cho hết. Làm gì có nước mà rửa.
Trong một trận đánh, anh Lý Văn Con - chiến sỹ thi đua, đem cơm cho anh em. Anh không may bị mảnh đại bác, chỉ còn dính tí thịt sau gáy, bị hy sinh. Tôi được lệnh dẫn tiểu đội đi chôn một số tử sĩ đã để ven rừng mấy hôm rồi. Gặp một cán bộ cấp trên đón và nói:
- Số đồng chí hy sinh phủ bạt đó, các đồng chí tiến hành đi. Gói mỗi người vào một bạt và chôn tại chỗ cho cẩn thận.
Tôi cố nén cảm giác chờn chợn, dõng dạc nói với anh em:
- Thôi làm đi, đừng sợ. Đồng chí mình chứ ai.
Vì thi thể để lâu đã nặng mùi, nhưng với nghĩa cử với đồng đội đã khuất, mọi người lặng lẽ làm xong phận sự. Không khí nặng nề bao trùm. Chúng tôi đào hố chôn chặt, đắp thành mộ rồi ra về. Lúc bấy giờ cũng chẳng biết sợ nữa vì công việc đã xong rồi. Bây giờ nghĩ lại tôi mới thấy thương đồng đội, không biết trong số thi hài ấy có ai tìm thấy mà quy tụ về nghĩa trang không.
Mấy ngày sau tôi lại được đi tăng cường cho tổ bắn bia sống. Tôi là một chiến sĩ, khi bắn tập thường cũng chỉ được 24 - 25 điểm là cùng, nhưng trên đã giao nhiệm vụ thì phải chấp hành. Suốt thời gian ở tổ này chỉ nằm trong hầm bên cạnh đường hào trục, ngày vài lần thay nhau bò ra con hào cách hàng rào ở chân đồi chừng năm chục mét. Nếu thấy thằng địch nào lên khỏi công sự là bắn. Tôi có bắn vài lần, mở hai mắt nhìn cũng thấy có tên ngã lăn xuống hào nhưng không tin chắc là chúng bị chết. Vì vậy cũng chẳng báo cáo làm gì.
Đến chiều tối ngày 6 tháng 5 năm 1954, chúng tôi được lệnh rút ra xa. Anh em theo hào rút về phía bản Cò Mỵ và dừng lại ăn tối.
Không khí có vẻ tấp nập khẩn trương. Người tập trung đông dần lên. Khoảng 8 giờ tối nghe có lệnh truyền xuống - chẳng biết lệnh từ đâu và của cấp nào:
- Tất cả quay lưng về A1, há mồm ra, bịt tai lại.
Tôi đoán là khối bộc phá tấn sắp nổ. Tôi bịt tai nhưng không quay lưng lại. Nhìn về A1 thấy một cột khói to như cây đa cổ thụ bốc lên. Rồi một tiếng nổ ục, mặt đất rung chuyển. Sau đó là các cỡ súng nổ ran.
Tối khoảng hơn 1 giờ sáng ngày 7 tháng 5, tổ bắn tỉa được lệnh trở về đơn vị cũ. Về tới ven rừng thì thấy anh nuôi vẫn chuẩn bị nấu cơm. Vừa buồn ngủ, vừa quá mệt, chúng tôi nằm trong hầm của anh nuôi rồi thiếp đi. Có mấy anh em trong đơn vị về nhưng chẳng ai nỡ gọi chúng tôi dậy làm gì.
A1 đã được giải quyết xong. Địch đã đầu hàng thế mà súng vẫn nổ. Hoá ra lính ta chiếm được súng của địch, hứng lên, bắn xả láng.
Đơn vị đang sắp xếp lại đội ngũ thì có lệnh áp giải tù binh về xuôi. Chừng năm trăm tên Âu Phi tập hợp tại một bãi bằng phẳng. Chúng nó đang hát và vỗ nhịp vào mũ sắt, đều và hay ra phết.
Nhận bàn giao xong, ta giải đi luôn. Tính bình quân, cứ mỗi người phải trông nom mười tên. Ba bốn giờ đầu tiên, lính ta khá vất vả vì phải chạy gằn mới theo kịp chúng đi. Sau rồi chúng mệt rã rời, uể oải. Bấy giờ lính ta vốn đã quen hành quân nên vẫn khoẻ mạnh hiên ngang. Từ ngày thứ hai trở đi, bọn chúng không còn tư cách gì nữa, một lũ tàn quân lê lết, luôn phải quát tháo thúc giục. Từ đêm thứ năm, thứ sáu trở đi, khi gần tới trạm nghỉ, sáng nào cũng phải đón mấy chục thằng lệt bệt đi sau.
Về tới Chiềng Pàn, bọn tù binh định tổ chức cướp và đánh tháo cho một số trốn chạy. Nó cho máy bay trực thăng sơn ký hiệu chữ thập đỏ bay thấp sát sườn đồi chỗ có tù binh nghỉ. Thằng tây con đầm ôm nhau trông rõ mồn một. Trời ơi, muốn bắn quá. Nó là trực thăng cứu thương, lại không có lệnh nên không ai dám bắn. Nghe đâu nó thả vũ khí và điện đài xuống nhưng ta bắt được cả. Có một thằng quyết tâm lội suối trốn chạy đã bị ta bắn chết.
Lại nói đến lũ tù binh, dẫn đi đã khó, lại phải lo cho nó ăn nữa chứ. Trung đội tù binh ngụy đi theo để nấu nướng phục vụ cho bọn Tây. Nếu đi cùng thì dềnh dàng đến trưa hôm sau Tây tù cũng không có cơm ăn. Ta phải cho bọn ngụy đi từ chiều để đến địa điểm sớm lo làm sao 10 giờ hôm sau là đã có ăn rồi. Vì vậy tôi phải dẫn hơn ba chục tên tù binh ngụy đi trước, ít người, nếu có máy bay cũng dễ tránh và tổ chức ăn uống thuận lợi hơn.
Một hôm, vì chưa có kinh nghiệm, khi đi qua một đoàn dân công người dưới xuôi lên làm đường ở Sơn La, họ ném đá và chửi bọn tù binh ngụy một trận nên thân. Rút kinh nghiệm, mỗi lần gần chỗ có dân công làm đường là tôi phải đến trước, nói rõ tầm quan trọng và yêu cầu phụ trách phải chịu trách nhiệm cùng chúng tôi làm tốt việc dẫn giải tù binh. Vì vậy, từ hôm ấy đi đường được yên ổn, chỉ đôi lúc có câu chửi mỉa mai thôi.
Để giữ được an toàn, tôi phải khai thác hết chuyện tiếu lâm, lúc nghỉ ngơi kể cho chúng nghe rồi cùng cười bò ra. Tôi cho chúng cùng hút thuốc lào với mình nên tự nhiên chúng thấy quý tôi.
Đến đâu tôi cũng phải ngủ riêng, cách chúng khoảng 5 mét. Một đêm, có cái lán tốc hết mái nhưng cao ráo, tôi thấy thích ngủ ở đó. Nửa đêm trời đổ mưa, có một thằng cũng tên là Bích, quê Thái Bình, cùng một thằng nữa nhổm dậy kéo nhau ra chỗ tôi. Tôi nhìn thấy, vội nhón tay vào cò khẩu tiểu liên rồi nâng lên bụng, sẵn sàng. Hai thằng giơ cái áo mưa bạt ra, khe khẽ bước đến che nóc lán cho tôi. Xong việc, chúng quay vào lán, tôi mới nói theo:
- Cảm ơn các cậu.
- Ô, thế anh không ngủ à?
Tôi trả lời:
- Ngủ sao được.
Từ đó bọn tù binh ngụy vui vẻ với tôi, nhưng tôi vẫn phải cảnh giác.
Về đến Thanh Hoá thì đơn vị bàn giao tù binh cho đơn vị khác. Bọn tù binh ngụy tỏ ra lưu luyến. Riêng cậu Bích lại sụt sịt khóc, vẻ lo sợ:
- Không biết chúng em đến chỗ mới có được đối xử như các anh không?
Tôi động viên chúng:
- Cứ yên tâm. Bộ đội cụ Hồ ai cũng thế cả mà.


