rận ném bom Tân Sơn Nhất ngày 28-4-1975 của Không quân nhân dân Việt Nam như đồng chí Phạm Hùng và Lê Đức Thọ đã nhận xét khi gặp đồng chí Lê Văn Tri - Tư lệnh Quân chủng PK-KQ và tôi ngày 2-5-1975 ở trại Đa vít, đồng chí nói: "Trận đánh của không quân vào sân bay Tân Sơn Nhất tuy lực lượng không lớn nhưng ý nghĩa rất lớn". Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam đã có một bộ phận lực lượng sử dụng máy bay thu được của địch tham gia tác chiến trực tiếp trong giai đoạn chuẩn bị hỏa lực đã đánh một đòn bất ngờ làm cho kẻ địch đang hoảng loạn lại càng hoảng loạn thêm, góp phần thắng lợi nhanh chóng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Trận đánh tuy quy mô không lớn nhưng đây là trí tuệ của cả một tập thể từ Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ, Quân khu 5, Quân khu 6, sư đoàn không quân 371, người chỉ đạo trực tiếp và Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh do đó có thể nói thắng lợi trận đánh của không quân ta ngày 28-4 vào sân bay Tân Sơn Nhất là một trận đánh đoàn kết hiệp đồng, trên dưới một lòng lập công tập thể.
Chủ trương chuyển loại sử dụng máy bay địch để đánh địch là một chủ trương hết sức đúng đắn của trên nhưng cũng là sáng tạo của dưới và kiên quyết, táo bạo chấp hành nhiệm vụ của trên giao, lực lượng quyết định trực tiếp để giành thắng lợi là người lái và nhân viên kỹ thuật máy bay, bộ phận phụ trách chuyển loại do đồng chí Trần Mạnh - Tham mưu phó Quân chủng PK-KQ phụ trách, đồng chí Phạm Ngọc Lan phụ trách chuyển loại người lái và đồng chí Hồ Thanh Minh phụ trách bộ phận sửa chữa máy bay.
Tôi không thể viết cụ thể công tác của các đồng chí cũng như động tác hành động chiến đấu của từng người lái trong trận đánh vì bản thân tôi cũng không biết cụ thể chính xác, tôi chỉ ghi lại những việc mình biết và trong nhật ký công tác đã ghi chép lại như sau:
Ngày 29 tháng 3 sân bay Đà Nẵng được giải phóng, ngày 3 tháng 4 đồng chí Tư lệnh Quân chủng PK-KQ Lê Văn Tri đã vào Đà Nẵng và giao nhiệm vụ cho tôi (lúc đó tôi là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng PK-KQ được phân công làm đại diện Quân chủng PK-KQ trong chiến dịch giải phóng Huế, Đà Nẵng), ở lại Đà Nẵng có 2 nhiệm vụ chính:
1. Chỉ huy các bộ phận thu chiến lợi phẩm và khôi phục hoạt động các sân bay thuộc Quân khu 5.
2. Chuẩn bị để chuyển loại người lái ta sử dụng máy bay địch càng nhanh càng tốt. Đến ngày 9-4 đồng chí Đào Đình Luyện, Phó Tư lệnh Quân chủng vào gặp tôi và truyền đạt ý kiến của Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng:
- Bộ Tư lệnh Quân chủng phân công tôi đi làm đại diện Quân chủng PK-KQ trong chiến dịch Hồ Chí Minh.
- Giao lại nhiệm vụ tiếp quản các sân bay ở Quân khu 5 và chuyển loại người lái cho đồng chí Trần Mạnh - Tham mưu phó Quân chủng phụ trách.
Lực lượng phòng không chiến dịch Hồ Chí Minh ngoài các lực lượng phòng không đã có Quân chủng chỉ tăng thêm một đại đội tên lửa mang vác.
Tôi có trao đổi tình hình với đồng chí Đào Đình Luyện để về báo cáo với Bộ Tư lệnh Quân chủng.
Để chuẩn bị cho không quân ta tham gia chiến đấu trong chiến dịch Hồ Chí Minh ngoài việc chuyển loại sử dụng máy bay địch nên chuẩn bị trung đoàn 921 sẵn sàng vào Đà Nẵng để khi cần thiết có thể vươn vào phía Nam.
Đồng chí Luyện về Hà Nội, tôi ở lại Đà Nẵng họp, đồng chí Trần Mạnh - Tham mưu phó Quân chủng, đồng chí Phạm Ngọc Lan, đồng chí Hồ Thanh Minh phụ trách kỹ thuật và một số đồng chí bảo vệ khác.Giao nhiệm vụ cho đồng chí Trần Mạnh ở lại thay tôi, đồng chí Phạm Ngọc Lan nghiên cứu chuyển loại người lái, đồng chí Hồ Thanh Minh phụ trách máy bay sửa chữa và phục vụ cho chuyển loại. Các đồng chí bảo vệ phải thẩm tra lại tù binh nhất là người lái và nhân viên kỹ thuật, những người không phạm tội ác nghiêm trọng cho họ ra phục vụ để nhanh chóng chuyển loại máy bay theo lệnh của Bộ và Quân chủng.
Trong thời gian đó tìm ở các trại giam của Quân khu 5 cũng chỉ có 2 lái máy bay A37 (trong đó có 1 lái A37 đã chuyển loại lái F-5) còn lại chúng đã bỏ chạy vào Sài Gòn hết; máy bay A37 hư hỏng nhiều sân bay Đà Nẵng và Phù Cát có trên 30 chiếc nhưng máy bay dùng được cũng chỉ có 6 - 7 chiếc. Tôi nói với đồng chí Lan và Minh: "Lệnh Bộ Tổng tư lệnh là phải nhanh chóng chuyển loại cho người lái ta để sử dụng máy bay địch đánh địch" .
Trước mắt huấn luyện viên chưa có, mới tìm được hai lái ngụy còn kỹ thuật sửa chữa A37 lại chưa biết, đang mò mẫm.
Đồng chí Phạm Ngọc Lan và đồng chí Hồ Thanh Minh nói "Chúng tôi quyết tâm khôi phục nhanh và anh em đã sửa được hai chiếc cho nổ máy thấy rất tốt", đồng chí Phạm Ngọc Lan nói "Tôi đã cùng hai tay lái ngụy tìm hiểu kỹ thuật lái A37 và hiện nay ở Đà Nẵng có một vài máy bay A37 có thể dùng để bay chuyển loại được".
Anh Trần Mạnh nói với tôi: "Anh cứ yên tâm đi chiến dịch, tôi sẽ tiếp tục làm việc với anh em, nhất định sẽ thực hiện được nhiệm vụ của Bộ Tổng tham mưu và Quân chủng giao".
Tôi cảm động bắt tay anh Mạnh và đến chiều hôm đó lên gặp anh Lê Trọng Tấn nhận nhiệm vụ đi theo chiến dịch Hồ Chí Minh.
Ngày 23-4 khoảng 10 giờ, tôi đang ở với bộ phận cơ quan Bộ Tổng tham mưu ở Mường Mán, đồng chí Tấn gặp tôi và nói: "Đồng chí Văn Tiến Dũng - Tư lệnh chiến dịch gọi đồng chí lên Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận nhiệm vụ”. Ngày 24-4-1975 tôi lên đường, gần tối đến Lộc Ninh vào trạm nghỉ của Bộ tư lệnh chiến dịch ở lại đó.
15 giờ 00 chiều 25-4 vào gặp đồng chí Văn TiếnDũng, Tư lệnh chiến dịch (hôm đó có đồng chí Hoàng Dũng - phó văn phòng Bộ Tổng tham mưu dự và ghi chép), tôi trực tiếp báo cáo tình hình tiếp quản các sân bay ở Quân khu 5, xong đồng chí bất ngờ hỏi tôi "Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã có ý định sử dụng không quân trong chiến dịch này như thế nào?", tôi trả lời "ngày 9-4 tôi có đề nghị Bộ Tư lệnh Quân chủng sử dụng trung đoàn 921 chuyển sân vào Đà Nẵng để khi cần vươn vào hoạt động phía Nam". Đồng chí Văn Tiến Dũng chậm rãi nói: "Lần này Bộ tư lệnh chiến dịch muốn sử dụng máy bay của địch để đánh địch, để xây dựng truyền thống cho không quân ta được tham gia trực tiếp chiến dịch lịch sử này đẩy nhanh kẻ địch càng rối loạn từ đó có thêm kinh nghiệm cho việc huấn luyện xây dựng và chiến đấu của không quân ta trong tương lai".
Đồng chí Văn Tiến Dũng hỏi: "Đồng chí có biết đã chuyển loại sử dụng máy bay của địch ở sân bay Đà Nẵng và Phù Cát như thế nào chưa?” Tôi trả lời "Ngày 12-4 tôi và đồng chí Mạnh đã bàn kế hoạch chuyển loại sử dụng A37 nhưng từ đó tôi không theo dõi tình hình cho nên không biết đến nay đã đến đâu”. Đồng chí VănTiến Dũng nói: "Đồng chí không biết cũng đúng thôi, tôi sẽ điện hỏi Bộ Tư lệnh Quân chủng ở Hà Nội". Tôi đề nghị thêm: "Đề nghị đồng chí nên đặt thêm một phương án nếu ta chưa chuyển loại kịp thì có thể sử dụng một mình Nguyễn Thành Trung đánh, làm thế nào có tiếng bom vào Sài Gòn là tốt rồi, bọn này rất sợ không quân nên bị hỗn loạn". Đồng chí Văn Tiến Dũng đồng ý, đồng chí Văn Tiến Dũng nói ta nên bàn cụ thể thêm: "Mục tiêu cần đánh có 3 mục tiêu: Bộ Tổng tham mưu, kho dầu, sân bay Tân Sơn Nhất; đồng chí chọn mục tiêu nào?". Tôi trả lời nên chọn sân bay Tân Sơn Nhất, sân đậu máy bay, mục tiêu dễ chọn, không quân ta tập kích vào sân bay địch làm cho địch dễ hoảng loạn hơn, tôi nói thêm: “Đánh vào Bộ Tổng tham mưu ngụy cũng được vì đó là cơ quan đầu não của ngụy quân nhưng khó chọn mục tiêu cũng như đánh vào kho xăng dầu vào nhiên liệu bốc cháy gây hoang mang cho địch, nhưng những mục tiêu đó ném bom rất khó chính xác". Đồng chí Văn Tiến Dũng hỏi tôi nên chọn đường bay nào vừa an toàn vừa đủ xăng dầu để anh em trở về Thành Sơn. Tôi nói: "Nếu đi dọc theo đường 1 dễ xác định các điểm kiểm tra không lạc, nhưng hỏa lực Phòng không của ta rất mạnh, quân đoàn 2, quân đoàn 4 sư đoàn phòng không 367 đang hành quân và đóng quân gần đường một dễ bị bắn nhầm không an toàn, dễ bị địch phát hiện sớm vì máy bay từ hướng Bắc vào". Đồng chí hỏi tiếp: "Thế thì theo ý kiến đồng chí nên chọn đường bay nào?". Tôi nói nên chọn bay từ Thành Sơn: bay ra biển, bay thấp đến gần mõm Vũng Tàu ngoặt vào Sài Gòn đánh luôn, như thế thì tránh được lực lượng phòng không, bảo đảm an toàn bí mật bất ngờ đối với địch, đồng chí Văn Tiến Dũng hỏi tiếp: "Dầu có đủ không”, tôi nói: Đủ.
Đồng chí Văn Tiến Dũng kết luận: "Đồng ý với mục tiêu đánh vào sân đỗ máy bay của sân bay Tân SơnNhất".
Đường bay nhất trí như đồng chí đã đề nghị, sau đó đồng chí Văn Tiến Dũng nói đến ngày đánh, đồng chí nói chỉ có một ngày 28-4 vì pháo binh tầm xa của ta ở trận địa Nhơn Trạch, đều lệnh ngừng bắn vào Tân Sơn Nhất tất cả các quân đoàn đã áp sát Sài Gòn và không quân ta ném bom dễ bị trúng vào ta, đồng chí còn nhắc đi nhắc lại: "Không quân chỉ có một ngày, chỉ có một lần" và đồng chí hỏi tôi: "Thời gian để chuẩn bị rất gấp, phải đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất trong vài ba ngày tới, liệu có làm được không?". Tôi trả lời: "Chúng tôi xin kiên quyết chấp hành bằng được, xin phép cho tôi lên đường ra Phan Rang ngay tối nay và đề nghị điện lệnh này cho đồng chí Lê Văn Tri - Tư lệnh Quân chủng, để cho chuyển ngay người lái, thợ máy và máy bay từ Đà Nẵng vào sân bay Thành Sơn".
Đồng chí Văn Tiến Dũng bảo tôi viết điện để đồng chí ký, tôi đã viết điện, nội dung như sau: "Điện gửi đồng chí Lê Văn Tri - Tư lệnh Quân chủng PK-KQ.
Bộ Tư lệnh chiến dịch có ý định sử dụng không quân trong chiến dịch Hồ Chí Minh để xây dựng truyền thống cho không quân ta, dùng máy bay A37 của địch, người lái ta đã chuyển loại ở sân bay Phù Cát để đánh. Tôi đã lệnh cho đồng chí Hoàng Ngọc Diêu ra sân bay Thành Sơn (Phan Rang) chuẩn bị, ngày 26-4-1975 đồng chí vào sân bay Thành Sơn gặp đồng chí Diêu.
Văn Tiến Dũng Về sân bay Thành Sơn gặp bộ phận tiếp quản gồm trên 30 cán bộ tham mưu, hậu cần họp bàn để chuẩn bị tiếp thu máy bay hạ cánh sớm nhất là ngày 27-4-19 75. Tất cả anh em đều phấn khởi và rất tích cực, người thì đi dọn đường băng để bảo đảm an toàn vì vỏ đạn và đạn rất nhiều, đài chỉ huy chưa có ai khôi phục lại hệ thống máy nổ, hệ thống thông tin, nhưng trong bộ phận tù binh đã có mấy thợ máy nổ, mấy thợ thông tin và một số kỹ thuật mặt đất, lái xe v.v...
Được tin, chiều 26-4 khoảng 14 giờ đồng chí Nguyễn Hồng Nhị - sư đoàn phó sư 371 và một số anh em tham mưu vào để giúp tổ chức chỉ huy, đi trên máy bay trực thăng Mi8, đến Nha Trang đỗ xuống, khi cất cánh ở độ cao hơn 1m đã bị một đơn vị địa phương bắn nhầm, nhưng tất cả tổ lái và cán bộ đi trên máy bay an toàn.
16 giờ tôi cùng với đồng chí Thân trợ lý tác chiến, ra sân bay Nha Trang và đến Bộ tư lệnh tiền phương của Quân khu 5 (đồng chí Hoàng Minh Thảo làm tư lệnh, đồng chí Lư Giang làm phó tư lệnh) để hợp đồng lại vì trước đó mấy ngày Bộ Tổng tham mưu đã lệnh cho Quân khu 5 không được bắn vào máy bay, tiền phương quân khu đã lệnh cho các đơn vị nhưng có đơn vị chưa quán triệt lệnh của Bộ Tổng tham mưu.
Sau khi gặp đồng chí Hoàng Minh Thảo và đồng chí Lư Giang, tôi đã nói ý định sử dụng không quân của Bộ tư lệnh chiến dịch và nhắc lại lệnh của Bộ Tổng tham mưu, các đồng chí đều nói để thông báo lại và cho cán bộ đi kiểm tra kỹ.
Trở về sân bay Thành Sơn, gặp đồng chí Nguyễn Hồng Nhị và anh em, đêm đó tôi đã bàn tất cả kế hoạch triển khai sân bay Thành Sơn với đồng chí Hồng Nhị và phân công đồng chí Nguyễn Hồng Nhị đi sâu vào tổ chức chỉ huy và khôi phục đài chỉ huy cất hạ cánh sân bay Thành Sơn.
Đến ngày 26-4 chúng tôi có gần 50 người đủ các loại thợ kỹ thuật (trong đó có gần 10 ngụy quân lấy ở các trại giam), ngày và đêm 26-4 tất cả công việc cơ bản đã chuẩn bị xong.
Ngày 27-4-1975, nhận được điện của Quân chủng báo: Ngày 28-4 đồng chí Lê Văn Tri vào và chuyển sân từ Phù Cát vào Thành Sơn, tôi vẫn cứ lo ngày 28-4- 1975 đồng chí Lê Văn Tri vào không biết xuất kích có kịp không.
Đúng 13 giờ ngày 28 tháng 4 đồng chí Lê Văn Tri vào sân bay Thành Sơn bằng Mi8, đi theo có đồng chí Trần Hanh, Tư lệnh sư đoàn 371 và một số cán bộ của sư đoàn. Tôi báo cáo lại tất cả mệnh lệnh của đồng chí Văn Tiến Dũng đã ra lệnh, bao gồm mục tiêu, đường bay và ngày đánh, nhấn mạnh ngày 28-4, không đánh thì mất thời cơ, đồng chí Tri nói vì sao ta không thêm 1 ngày nữa là ngày 29-4-1975, tôi trả lời: "Đồng chí Dũng đã nhấn mạnh chỉ có 1 ngày vì ngày 29-4-1975 các quân đoàn đã áp sát Sài Gòn không đánh được, ta lại không có liên lạc để xin lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch" đồng chí Tri đồng ý chỉ có 1 ngày 28-4.
9 giờ 30 phút ngày 28-4 phi đội Quyết thắng cất cánh ở sân bay Phù Cát và sau 1 giờ hạ cánh ở sân bay Thành Sơn (Phan Rang) chuẩn bị xuất kích, 14 giờ 30 phút Tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ chiến đấu cho phi đội.
16 giờ 25 phút ngày 28-4 cất cánh xuất kích, trên đài chỉ huy sân bay Thành Sơn có: Tư lệnh Lê Văn Tri -Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Hoàng Ngọc Diêu và đồng chí Trần Hanh - Tư lệnh sư đoàn 371 trực tiếp cầm ống nói chỉ huy cất cánh.
Phương tiện chỉ huy chỉ có thông tin đối không, không có ra đa mà chẳng có dẫn đường. Phi đội Quyết thắng được lệnh cất cánh, đi đầu số 1 đồng chí Nguyễn Thành Trung, không phải phi đội trưởng nhưng được giao nhiệm vụ dẫn đội và xác định mục tiêu vì đồng chí đã từng ở sân bay Tân Sơn Nhất, đồng chí Từ Đễ đi số 2, đồng chí Nguyễn Văn Lục đi số 3 (đồng chí Lục được chỉ định làm phi đội trưởng Quyết thắng nhưng không thạo địa hình bằng đồng chí Nguyễn Thành Trung do đó đi số 3), Hoàng Mai Vượng số 4, Hán Văn Quảng số 5, đúng 16 giờ 25 phút, phi đội cất cánh đã hoàn thành nhiệm vụ của trận đánh lịch sử. Đúng 18 giờ 15 phút ngày 28 tháng 4 năm 1975 phi đội đã hạ cánh an toàn trên sân bay Thành Sơn (Phan Rang), đồng chí Tư lệnhQuân chủng Lê Văn Tri đã đợi các đồng chí ở sân đỗ và bắt tay từng đồng chí, ai cũng phấn khởi hân hoan trước thắng lợi của phi đội Quyết thắng.
Đêm 28-4-1975 chúng tôi ngủ lại sân bay Thành Sơn, khoảng 11 giờ đang ngủ thì tiếng bom nổ gần nhà đồng chí Lê Văn Tri và tôi đang ở. Sau này mới phát hiện 2 lần máy bay F-5E của địch đã đến cắn trộm trước thất bại thảm hại của chúng, đấy là tiếng bom báo hiệu ngày tận số của ngụy quyền Sài Gòn và ngụy quân nói chung không quân ngụy nói riêng ở phía ta một thiếu úy thông tin bị thương nhẹ ở chân, anh em nói đùa đây là một vết thương rất đẹp ghi lại ngày chiến thắng của không quân ta.
Sáng ngày 29-4-1975 tôi đi vào Xuân Lộc gặp đồng chí Lê Trọng Tấn, 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975 được tin giải phóng Sài Gòn, ngày mồng 2 tháng 5 năm 1975 vào sân bay Tân Sơn Nhất gặp đồng chí Lê Văn Tri, đồng chí Tri và tôi cùng nhau đi xem lại khu vực sân đỗ máy bay địch bị ta ném bom, xác 10 chiếc máy bay vận tải của không quân địch đã bị cháy và hư hỏng nặng. Chúng tôi vào trại Đa vít gặp đồng chí Phạm Hùng và đồng chí Lê Đức Thọ đang ở đó, đồng chí Tri báo cáo tình hình thu chiến lợi phẩm và hệ thống sân bay của ngụy, báo cáo trận đánh của không quân ta vào sân bay Tân Sơn Nhất, các đồng chí rất vui và khen ngợi không quân ta đã tích cực tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và nói: "lực lượng không lớn nhưng ý nghĩa lịch sử rất lớn". Đồng chí Hùng rất phấn khởi và thân mật hỏi đồng chí Tri: "Cậu thấy cơ sở của miền cài vào địch có ngon không" ý nói đồng chí Nguyễn Thành Trung một đảng viên của ta hoạt động bí mật trong không quân ngụy. Các đồng chí Lê Đức Thọ, Phạm Hùng cùng chúng tôi chụp chung tấm ảnh ở trại đa vít và tấm ảnh này tôi xin gửi tặng Viện lịch sử Quân đội để ghi lại trận thắng của không quân ta trong chiến dịchHồ Chí Minh lịch sử. |