Về lại Mo So
Về lại Mo So Tháng 7, những cơn mưa hè bất thường rơi về chiều, Mo So lặng yên trong màn sương mờ ảo. Sóng biển rì rào vọng vào vách đá, đâu đó tiếng mìn phá đá âm vang từng đợt dội lại, chợt gợi tôi nhớ một thời cách đây gần 60 năm…

Về lại Mo So
Tháng 7, những cơn mưa hè bất thường rơi về chiều, Mo So lặng yên trong màn sương mờ ảo. Sóng biển rì rào vọng vào vách đá, đâu đó tiếng mìn phá đá âm vang từng đợt dội lại, chợt gợi tôi nhớ một thời cách đây gần 60 năm…
Tháng 7, những cơn mưa hè bất thường rơi về chiều, Mo So lặng yên trong màn sương mờ ảo. Sóng biển rì rào vọng vào vách đá, đâu đó tiếng mìn phá đá âm vang từng đợt dội lại, chợt gợi tôi nhớ một thời cách đây gần 60 năm…
Thời ấy, Mo So là căn cứ của Binh công xưởng 8 thuộc tỉnh Long Châu Hà (Mo So ngày nay thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang). Nơi đây, nhiều đồng đội tôi đã sống, chiến đấu và hi sinh, hoàn thành nhiệm vụ người lính thợ, góp phần giải phóng quê hương. Cuối 1950 đầu năm 1951, chiến dịch Long Châu Hà mở ra, các đồn bốt của Pháp bị ta tiến công đồng loạt đều khắp Đồng bằng sông Cửu Long. Địch điên cuồng chống trả quyết liệt. Chúng mở nhiều cuộc càn quét vào hậu cứ quân giải phóng nhằm cắt nguồn hậu cần, làm suy yếu sức mạnh tiến công của quân dân ta. Mo So là mục tiêu quan trọng mà quân Pháp nhắm tới.
Một sáng tháng 3-1951, Mo So đang yên ngủ, bất ngờ những âm thanh gầm rú của động cơ máy bay vọng tới, tiếp theo hàng loạt bom chùm trút xuống. Pháo từ biển cũng bắn vào cấp tập. Mo So rung lên trong bom đạn, tưởng như sắp nổ tung. Từ nơi đóng quân, các chiến sĩ Binh công xưởng 18 nhanh chóng vào vị trí chiến đấu, bình tĩnh chuẩn bị cho những tình huống khốc liệt nhất, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ kho xưởng, bảo vệ an toàn căn cứ. Trời vừa sáng, địch bắt đầu đổ quân. Trên không, những chiếc máy bay vận tải thả dù, đủ loại xanh, đỏ, trắng. Bốn tiểu đoàn Lê dương và quân Bảo hoàng, hình thành hai gọng kìm tiến vào Mo So. Lực lượng của ta có 100 chiến sĩ với một số vũ khí hạng nhẹ như súng trường, lựu đạn, súng ngắn… Lợi thế của ta là dựa vào hang động, dựa vào núi rừng hiểm trở với cách đánh du kích thành thạo. Các chiến sĩ Binh công xưởng 18 không hề nao núng trước trận chiến không cân sức này.
Khoảng 9 giờ, một nhóm lính Pháp ở dưới đông bắc đã vào núi hang Cây Me (còn gọi là hang Lò Đúc). Anh Trần Văn Tâm với khẩu súng ngắn bắn gục một tên Pháp, nhưng cùng lúc ấy địch phát hiện và bắn xối xả về phía anh. Anh lảo đảo ôm ngực, máu loang đỏ nơi anh nằm. Bọn lính vừa bắn, vừa tràn đến kéo xác đồng bọn. Lúc này anh Đỗ Hữu Trí ở trong hang ném liên tục hơn 20 quả lựu đạn xuống sườn núi, nơi có bọn lính tập trung. Lựu đạn nổ dồn dập, đám lính hốt hoảng bỏ chạy. Trước sự chống trả quyết liệt của quân ta, cánh quân tấn công hang Cây Me đành rút lui với nhiều tên chết và bị thương.
Cũng vào sáng hôm ấy ở hướng tây nam, bên hang Nước Ngọt, nơi nhà ăn Xưởng 18, một điều không may xảy ra. Cánh quân địch lẻn vào chân núi gặp anh Thạch Xiêm đang trên đường về căn cứ. Với khẩu súng ngắn, anh Xiêm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, bắn bị thương 3 tên lính Pháp. Súng anh hết đạn, giặc sáp lại bắt trói anh. Lúc đầu, địch dùng những lời đường mật, dụ dỗ anh Thạch Xiêm, nếu chịu khai và đầu hàng, chúng sẽ tha tội chết. Chúng hỏi anh: “Xưởng này có bao nhiêu người? Ai là chỉ huy? Hàng tháng sản xuất bao nhiêu loại vũ khí, số lượng?”. Anh Thạch Xiêm im lặng. Sau hơn 10 phút, tên sĩ quan Pháp tức giận dùng súng ngắn đập vào đầu anh, máu phun ướt cả thân người. Anh Xiêm trả lời: “Chỉ huy cũng là tao. Cộng sản cũng là tao”. Giặc dẫn anh đi khắp hang động Mo So, buộc anh khai báo các hang anh em trú ẩn. Anh trả lời với chúng: “Họ lên núi và ra rừng hết rồi”. Bọn giặc tiếp tục tra khảo, đánh đập anh rất tàn nhẫn. Cả người bầm tím và máu ra nhiều, anh Xiêm ngất xỉu. Ở trong hang Nước Ngọt, hơn 30 đồng chí đang từng phút, từng giây theo dõi tình hình và chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu nếu anh đầu hàng, dẫn địch vào. Tỉnh dậy, biết mình không thể sống được, anh Xiêm cố gắng dồn sức hô to nhiều lần, âm vang núi rừng: “Đả đảo giặc Pháp xâm lược!”. Bọn giặc tức giận điên cuồng, lồng lộn đè anh xuống. Chúng dùng cây dao khui đồ hộp 7 lưỡi, mài xuống đá cho thật sắc rồi móc mắt anh. Anh hô vang: “Hồ Chủ tịch muôn năm, muôn năm, muôn năm!”. Liền sau đó, giặc man rợ tiếp tục móc con mắt thứ hai của anh, rồi dùng chiếc đũa cái nhà bếp, đâm thủng hai tay và vạt nhọn cây tre, đâm từ hậu môn lên cổ anh. Lúc ấy khoảng 10 giờ, ngày 8-3-1951, núi rừng im bặt, tiếng súng ngừng nổ, biển Ba Hòn không sóng vỗ… Thiên nhiên và con người nghiêng mình vĩnh biệt anh Thạch Xiêm – người đảng viên, người con của dân tộc Khơ-me anh dũng.
Mo So ngày ấy còn ấp ủ tình yêu sâu đậm của một người lính thợ với cô gái Khơ-me duyên dáng… Anh Nguyễn Văn Hiền yêu thị Thơm, người Khơ-me ở Kênh 5, xã Nam Thái Sơn. Gia đình hai bên chưa ưng thuận vì tuổi tác quá chênh lệch, sau nhờ công tác vận động quần chúng tốt, anh chị nên duyên vợ chồng. Đám cưới tổ chức vui vẻ, bà con phum, sóc đến dự đông đủ. Đêm ấy liên hoan, mọi người cùng múa lâm thôn tới sáng, đậm đà tình đoàn kết quân dân. Anh Hiền vừa được vợ, vừa có giấy khen của UBND tỉnh Long Châu Hà kèm bao thư tặng 500 đồng tiền Đông Dương.
Thấm thoắt, hơn nửa thế kỷ trôi qua, anh chị em Xưởng 18 còn nhắc mãi chuyện xưa. Hằng năm, cứ đến ngày 15-9, chúng tôi họp mặt. Năm 1975, chúng tôi đi tìm vợ con anh Thạch Xiêm, biết tin vợ anh đã qua đời. Tháng 5-1995, Binh công xưởng 18 tổ chức hội thảo, đề nghị Bộ Quốc phòng truy tặng anh Thạch Xiêm danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Liệt sĩ Thạch Xiêm xứng đáng được dựng tượng ở Xưởng 18, núi Mo So để thế hệ mai sau noi gương.



