VỀ TRUNG ĐOÀN 397
Trong những năm 1949–1954, công tác tại Trung đoàn 397 đã giúp tác giả trưởng thành toàn diện về bản lĩnh chính trị, trình độ công tác và năng lực lãnh đạo. Được học tập lý luận cách mạng, bồi dưỡng trong thực tiễn và kết nạp vào Đảng khi mới 17 tuổi, tác giả coi đây là bước ngoặt lớn nhất của cuộc đời. Trên cương vị phụ trách Trường Thiếu sinh quân Trung đoàn trong hoàn cảnh thiếu thốn, gian khổ, tác giả cùng đồng đội vượt qua khó khăn, ổn định học tập và sản xuất, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Kết
Những năm 1949 - 1950, tôi được biên chế làm thư ký đánh máy cho văn phòng Trung đoàn 397.
Tôi trưởng thành hơn về nhận thức, tư tưởng, bước đầu hiểu thế nào là quan điểm lập trường, biết về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Vốn liếng chính trị cơ bản dần được trang bị, tôi cảm thấy mình lớn lên thật sự dù vẫn đang tuổi thiếu niên.
Những năm ấy, phong trào chiến tranh du kích ở Nam Bộ nói chung, Bà Rịa nói riêng đã có thế và lực mới. Lực lượng vũ trang đã hình thành ba thứ quân, có chủ lực, có các đại đội độc lập và du kích tập trung, du kích xã làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân địa phương.
Ở Bà Rịa, các căn cứ địa được mở rộng. Căn cứ Xuyên Mộc - Phước Bửu trải rộng tới Hồ Tràm, Lộc An giáp biển, là căn cứ của Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh và Trung đoàn 397. Ở ngã tư trong rừng Phước Bửu dân cư đông đúc, mua bán sầm uất. Thời bấy giờ dân kháng chiến thường gọi khu vực này là “Sài Gòn mới”.
Ngoài căn cứ Xuyên Mộc - Phước Bửu, còn có càn cứ Cơ Trạch tiếp giáp với Xuân Lộc, các căn cứ này nối liền nhau và được gọi là chiến khu Xuyên - Phước - Cơ. Ở phía tây lộ số 2 có căn cứ Hắc Dịch, Phú Mỹ (thuộc địa bàn huyện Tân Thành ngày nay) gọi tắt là Khu Tây.
Trong vùng căn cứ có tổ chức sản xuất, mua bán sôi nổi. Tại căn cứ Khu Tây, bộ đội phát rừng làm rẫy, trồng lúa, mì, bắp, khoai lang, bí đỏ... đế giải quyết nạn thiếu lương thực.
Lúc này, tôi làm việc dưới quyền anh Châu Quang Kiều, Chánh văn phòng Trung đoàn, cùng tổ văn thư với các anh Khôi, Giác... Bộ phận nhân sự có anh Rằng – Trưởng ban, các anh đều là đảng viên cộng sản. Tôi là người nhỏ tuổi nhất trong cơ quan, được các anh thương yêu, dạy bảo, dìu đắt đến nơi đến chốn về mọi mặt.. Do trình độ văn hóa còn kém, trước kia chỉ được học tới lớp 3 nên các anh khuyến khích tôi đi học thêm bổ túc văn hóa, vừa học vừa làm, ngày làm, đêm học.
Được đi học, lại có máu nóng của tuổi trẻ vốn ham hiểu biết, gặp sách gì tôi cũng đọc, hấp dẫn nhất là sách chính trị, sách viết về Đảng Cộng sản. Thời gian này, tôi đã ngấu nghiến đọc "Tư bản luận” của Các Mác, tuy hiểu không sâu nhưng tôi vẫn say mê đọc đi đọc lại nhiều lần; dễ nhớ và dễ hiểu là quyển “Sửa đổi lối làm việc’’ của Hồ Chủ tịch, quyển “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng.
Đang lúc khát khao về một cuộc sống tốt đẹp sẽ đến, tôi ham đọc, ham học và cũng rất ham làm. Tôi nghĩ, làm cũng là một cách học, có làm mới mở mang đầu óc, kiến thức được mở rộng, nắm vấn đề mới chắc và sâu hơn.
Do làm việc có hiệu quả, các "anh lớn” càng chăm chút bồi dưỡng chính trị cho tôi. Trong các cuộc học tập về Đảng do Liên chi cơ quan Trung đoàn tổ chức (anh Hoàng Kim Chung là Bí thư Liên chi), anh Kiều đề nghị cho tôi đi học. Được đi học, tôi học rất chăm chú, ngày càng tỏ ra tiến bộ, sau này tôi mới biết các anh quyết tâm giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, củng cố lập trường quan điểm cho tôi để kết nạp tôi vào Đảng.
Ngày 19 tháng 12 năm 1949, hai anh Châu Quang Kiều Bí thư chi bộ - Chánh văn phòng Trung đoàn và anh Võ Văn Rằng, Chi ủy viên - Trưởng ban nhân sự Trung đoàn đứng ra giới thiệu tôi vào Đảng.
Lễ kết nạp được tổ chức trong rừng Láng Sim, Phước Bửu anh Hoàng Kim Chung (Anh Hoàng Kim Chung, khi tập kết ra Bắc, anh về công tác ở Tổng Cục chính trị. Năm 1958. anh được phong quân hàm Đại úy. sau anh trở thành nhà văn, nhà báo quân đội. Hiện nay, anh đang nghỉ hưu, là cán bộ cách mạng lão thành 60 năm tuổi Đảng (hiện ngụ tại 206 Đồng Khởi – Trảng Dài - Biên Hòa. Bút danh là nhà văn Anh Hoàng – Đồng Nai)) - Bí thư Liên chi cơ quan - đứng ra kết nạp tôi vào đội ngũ của Đàng. Ngày 5 tháng 5 năm 1950, tôi trở thành đảng viên chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vào Đảng là một vinh dự lớn cho tôi. Cuộc đời bơ vơ thời niên thiếu của tôi đã chấm dứt, không chỉ trở thành Vệ quốc đoàn mà còn được tổ chức đánh giá và thừa nhận là chiến sĩ tiên phong, là người của Đảng. Từ đây, cuộc đời tôi bước sang trang mới, với trách nhiệm của người đảng viên đối với đất nước, với nhân dân. (Năm 1949, vì muốn sớm vào Đảng tôi đã khai thêm cho mình 2 tuổi thành ra sinh năm 1931. Còn chính xác tôi sinh năm 1933. Năm 1955, trong đợt chỉnh huấn cải cách ruộng đất có yêu cầu xác định tuổi Đảng lại, tổ chức đã xem xét vả chấp nhận tuổi Đảng của tôi, vì động cơ vào Đảng tốt)
Tôi tiếp tục làm thư ký văn thư - đánh máy cho văn phòng Trung đoàn đến hết năm 1951. Thời kỳ này anh Trần Thắng Minh về làm Trung đoàn trưởng. Cơ quan vẫn ở Láng Sim, Phước Bửu, cặp theo sông Hỏa ngày nay.
Năm Nhâm Thìn (1952), năm xảy ra trận bão lụt khủng khiếp ở Nam Bộ, lương thực bị mất trắng, bộ đội bị đói và ốm đau nhiều, địch lợi dụng thời cơ này tăng cường đánh phá, mở rộng lấn chiếm. Các cơ quan Trung đoàn phải giảm bớt quân số. Những bệnh binh nặng được đưa về thành để hợp pháp chữa bệnh. Số thiếu sinh quân được các cơ quan tập trung lại thành lớp học, vừa học văn hóa, vừa học quân sự, chính trị. Tôi được Trung đoàn phân công phụ trách lớp thiếu sinh quân, chuyển lên xây dựng căn cứ ở Sông Sót, Xuyên Mộc, vừa xây dựng chỗ ăn ở, vừa sản xuất tự túc, chuẩn bị cơ sở học tập. Ngoài tôi là phụ trách chung, Ban quân nhu tài chánh (hậu cần) Trung đoàn còn cử một cán bộ là ông Năm Tâm trên 40 tuổi, về làm quản lý, lo chỉ đạo sản xuất tự túc.
Đây là thời kỳ thử thách của tôi. Sau trận lụt năm 1952, mùa màng bị mất trắng, không có gạo đã đành, đến bắp, củ mì cũng thiếu. Trong tay lại nắm một đơn vị trên 40 người, tuổi từ 15 đến 18 đang sức ăn, sức lớn. Cả đơn vị chỉ có tôi là đảng viên, lúc ấy mới 19 tuổi. Làm sao cho đơn vị có cái ăn, có chỗ ở, tổ chức học hành thế nào để ổn định tư tường và giữ vững tinh thần anh em?
Ông Năm Tâm chịu trách nhiệm xin đất, mượn dụng cụ như dao, cuốc và chạy lo củ mì, muối, bắp để ăn tạm hàng ngày. Tôi lo tổ chức sản xuất xen kẽ với làm nhà, tổ chức sinh hoạt, học văn hóa. May thay, nhờ giúp đỡ, đùm bọc của các mẹ, các chị, của đồng bào Xuyên Mộc, cuối cùng đơn vị cũng vượt qua tất cả. Sản xuất bắp, mì, lúa, đủ ăn, rau thì nhiều, cá bắt dưới sông Sót, lán trại đủ để ở. Cuối năm 1952, đơn vị thiếu sinh quân đã đi vào ổn định học tập.
Lần đầu tiên làm nhiệm vụ lãnh đạo, tôi đã gây được lòng tin đối với Trung đoàn. Tôi tự tin hơn, vững vàng hơn, tôi “già” đi nhiều trước tuổi. Dù bận rộn tôi vẫn giữ thói quen đọc sách. Tôi đọc nhiều sách nói về Cách mạng Tháng Mười, về Chiến tranh thế giới thứ hai, về vai trò và những chiến công của Hồng quân Liên Xô. Những sách này tôi “mượn” của Ban Chính trị Trung đoàn, từ những cán bộ Nam tiến đem vào, tặng lại Trung đoàn. Tôi sùng bái tướng Giucốp và càng sùng bái Đại nguyên soái Xtalin. Cuối 1953, Xtalin mất, tôi đã khóc.
Cùng khoảng thời gian này, có một đoàn cán bộ cao cấp của miền Nam ra Bắc học tập gồm các anh Đồng Văn Cống. Lê Hiền, Đào Sơn Tây, nhà thơ Bảo Định Giang và nhiều người nữa. Tôi được Ban chỉ huy Tỉnh đội Bà Chợ (gồm Trung đoàn 397, Tỉnh đội dân quân Bà Rịa sáp nhập lại. Cộng thêm các huyện Nhà Bè, Cần Đước, Cần Giuộc, Nam Chợ Lớn) chọn đi phục vụ và bảo vệ đoàn vượt Trường Sơn ra Bắc.
Cuối năm 1953, đoàn vẫn đang ở vùng giải phóng Liên khu 5 (đoạn từ Phú Yên ra Quảng Ngãi). Tháng 7 nàm 1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Đông Dương được ký kết.
Từ đây, cả đoàn được tàu của Ba Lan đưa từ Quy Nhơn ra Bắc.
Tôi hoàn toàn không hề biết gì cảnh tập kết của lực lượng miền Nam ra Bắc. Nhưng biết rằng ở miền Đông Nam Bộ, Phước Bửu là địa điểm duy nhất tập kết quân và rút quân sớm nhất so với các điểm Cao Lãnh và Chắc Băng ở Khu 8 và Khu 9 (miền Trung và Tây Nam Bộ) .
Các đơn vị miền Nam tập kết ra Bắc được chia thành hai Sư đoàn 330 và 338. Tôi được đưa trở về Sư đoàn 330 (gồm các đơn vị miền Đông Nam Bộ là chủ yếu) và được phân công làm trợ lý quân lực sư đoàn.
Nhìn lại chặng đường kháng chiến chống Pháp, từ một đứa trẻ mồ côi, tự quyết định đời mình bằng việc đi theo bộ đội, từ đơn vị này sang đơn vị khác, từ đồng bằng lên rừng núi, từ miền Nam ra miền Bắc, tôi đã hoàn toàn trở thành một con người mới.
Tôi vào quân đội lúc còn rất trẻ, mới 14 tuổi. Lúc bấy giờ, phong trào kháng chiến đang sôi nổi, tôi chỉ chạy theo phong trào, chưa biết giác ngộ cách mạng là gì. Qua một thời gian dài được Đảng, được quân đội rèn luyện, giáo dục, được các “anh lớn", lớp người đi trước chăm lo, dìu dắt, tôi mới phân biệt được đâu là bạn, đâu là thù, mới có lòng yêu nước, biết yêu giai cấp nghèo khổ, càng căm thù thực dân Pháp xâm lược đã làm mình tan nhà, nát cửa, đã đẩy cả dân tộc mình đến cái thế chẳng đặng đừng buộc phải cầm súng chống lại chúng. Tôi đã nhận thức được phải kháng chiến trường kỳ, từ yếu ta sẽ mạnh dần lên nhờ có chiến tranh nhân dân, nhờ dựa vào nhân dân. Cuộc kháng chiến nhất định thắng lợi, tôi đinh ninh như thế.
Phần thưởng cao nhất trong thời kỳ đánh Pháp đối với tôi là được kết nạp chính thức vào Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc ấy mang tên Đảng Lao động Việt Nam) lúc mới 17 tuổi. Thử thách lớn nhất đối với tôi là khi được giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ huy Trường Thiếu sinh quân Trung đoàn 397, trong hoàn cảnh đầy rẫy khó khăn, gian khổ khi mới 19 tuổi. Và tôi rất tự hào đã không phụ lòng tin cậy của cấp trên.
Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhận thức về Đảng, về chủ nghĩa xã hội, về đấu tranh giai cấp, về hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội đồng thời đầy mạnh đấu tranh giải phóng miền Nam... trong tôi đã có một tầm nhìn mới, nhất là sau các cuộc chỉnh huấn về quân đội nhân dân về cải cách ruộng đất trên miền Bắc.


