Vị Thủ Lĩnh Áo Vải Và Kỳ Tích Hai Lần Buộc Pháp Giảng
Trong số các phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, khởi nghĩa Yên Thế nổi lên như một bản anh hùng ca bất diệt về tinh thần tự lực của giai cấp nông dân, và linh hồn của cuộc chiến trường kỳ ấy chính là Hoàng Hoa Thám (thường gọi là Đề Thám, 1858 – 1913). Sinh ra trong một gia đình nghèo tại đất võ kiên cường, ông lớn lên giữa lúc nước mất nhà tan. Bằng thủ lĩnh thiên bẩm, sự dũng mãnh và lòng yêu nước nồng nàn, ông đã kế tục vai trò thủ lĩnh tối cao, lãnh đạo nghĩa quân nông dân Yên Thế đối đầu trực diện với bộ máy chiến tranh hiện đại của thực dân Pháp.
Biệt danh "Hùm xám Yên Thế" mà kẻ thù run sợ đặt cho Đề Thám xuất phát từ tài mưu lược và lối đánh du kích xuất quỷ nhập thần của ông. Dựa vào địa thế rừng núi hiểm trở của vùng Bắc Giang, Đề Thám đã tổ chức lối đánh "ẩn hiện như thần", chủ động phục kích, bẻ gãy hàng loạt trận càn quét quy mô lớn của thực dân Pháp. Tài năng quân sự của ông xuất sắc đến mức buộc chính quyền thực dân phải hai lần ký hòa hoãn, nhượng bộ và cắt đất phong cho nghĩa quân cai quản – một kỳ tích độc nhất vô nhị trong lịch sử kháng chiến chống Pháp lúc bấy giờ.
Không chỉ bó hẹp trong rừng núi Yên Thế, Đề Thám còn có tầm nhìn thời đại khi chủ động kết giao với các sĩ phu yêu nước tiến bộ như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, và tham gia hỗ trợ cuộc khởi nghĩa binh lính ở Hà Nội (vụ đầu độc lính Pháp năm 1908). Suốt gần 30 năm kiên cường bám trụ, ông và nghĩa quân đã biến Yên Thế thành một pháo đài bất khả xâm phạm, một biểu tượng của ý chí tự do, không chịu cúi đầu trước ách nô lệ.
Tháng 2 năm 1913, vị chủ tướng anh hùng bị kẻ phản bội sát hại, khép lại một trang sử bi hùng. Dù phong trào Yên Thế thất bại, nhưng hình ảnh "Hùm xám" Hoàng Hoa Thám hiên ngang giữa đại ngàn mãi mãi là niềm tự hào kiêu hãnh của lòng yêu nước, minh chứng cho sức mạnh quật khởi, bền bỉ vô song của người nông dân Việt Nam.



