Anh hùng Lực lượng vũ trang

VỊ TƯỚNG TÀI BA ĐẤT CHIẾN KHU Đ VÀ THI SĨ CỦA BẢN TRƯỜNG CA "TỪ THUỞ MANG GƯƠM ĐI MỞ CÕI"

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng kiên cường của quân và dân miền Đông Nam Bộ, hình tượng người tướng lĩnh văn võ song toàn, một tay cầm súng giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng, một tay cầm bút tạc nên những vần thơ bất hủ đã in sâu vào tâm thức dân tộc. Trung tướng (truy phong), Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Văn Nghệ (bí danh Tám Nghệ) – nguyên Chỉ huy trưởng Chi đội 10, Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu 7, người sáng lập Chiến khu Đ huyền thoại – là một nhân cách kiệt xuất của thời đại Hồ Chí Minh. Cuộc đời ông là sự kết tinh kỳ diệu giữa tài thao lược quân sự của một vị tướng trận mạc dạn dày và tâm hồn thi sĩ lãng mạn, hào sảng với câu thơ tạc vào hồn cốt non sông: "Từ thuở mang gươm đi mở cõi / Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long".

TP. Hồ Chí Minh28/10/2026Dương Nguyễn Giáp/ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Xã Trần Phú (xã Trần Phú)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong những năm đầu gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay lại xâm lược Nam Bộ (1945 – 1954):

  • Miền Đông Nam Bộ nói chung và vùng đất Tân Uyên – Biên Hòa – Bình Dương nói riêng là chiến trường đọ sức quyết liệt. Quân viễn chinh Pháp với hỏa lực vượt trội ráo riết càn quét nhằm tái lập ách thống trị và bình định toàn vùng.

  • Vấn đề sống còn đặt ra cho cách mạng miền Nam thời điểm bấy giờ là phải nhanh chóng xây dựng được một căn cứ địa kháng chiến vững chắc, kết nối các lực lượng vũ trang phân tán thành một khối thống nhất, sáng tạo cách đánh du kích tiêu hao sinh lực địch và biến rừng thiêng hiểm trở thành "bức tường thành cách mạng".

  • Đồng chí Huỳnh Văn Nghệ với tầm nhìn chiến lược, tư duy quân sự nhạy bén và uy tín sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân đã đứng ra quy tụ lực lượng, kiến thiết nên Chiến khu Đ bất tử – căn cứ địa đầu não của phong trào kháng chiến Nam Bộ suốt hai cuộc trường chinh chống Pháp và chống Mỹ.

  • Người con ưu tú của dòng sông Đồng Nai

    Huỳnh Văn Nghệ sinh ngày 2 tháng 2 năm 1914 tại làng Tân Tịch, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc xã Thường Tân, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) – vùng đất giàu truyền thống yêu nước bên tả ngạn sông Đồng Nai:

    • Lớn lên trong gia đình nông dân nề nếp, có truyền thống trọng nghĩa khinh tài, ông sớm bộc lộ tư chất thông minh, hiếu học và tinh thần khẳng khái, bất khuất.

  • Khi theo học tại Trường Trung học Pétrus Ký (Sài Gòn), ông đã hăng hái tham gia phong trào bãi khóa của học sinh – sinh viên phản đối thực dân Pháp, tham gia lễ truy điệu nhà chí sĩ Phan Châu Trinh.

  • Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc tại Sở Hỏa xa Sài Gòn, tích cực tham gia các phong trào đấu tranh của công nhân và được giác ngộ lý tưởng cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương.

  • Năm 1937, ông tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, sáng lập và viết báo tuyên truyền cách mạng. Bị mật thám Pháp theo dõi ráo riết, năm 1939 ông sang Thái Lan hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước rồi trở về nước trực tiếp tham gia lãnh đạo phong trào chuẩn bị Tổng khởi nghĩa.

  • Vị tướng sáng lập Chiến khu Đ và bẻ gãy các chiến dịch càn quét của giặc

    Mùa thu năm 1945, Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, Huỳnh Văn Nghệ là một trong những thủ lĩnh chỉ huy giành chính quyền thắng lợi tại tỉnh Biên Hòa:

    • Khai sinh Chiến khu Đ huyền thoại: Khi thực dân Pháp nổ súng tái chiếm Sài Gòn và mở rộng ra Nam Bộ, ông đã có quyết định lịch sử: đưa lực lượng vũ trang rút về vùng rừng núi hoang vu hiểm trở Tân Uyên, xây dựng căn cứ địa Chiến khu Đ. Nơi đây nhanh chóng trở thành "thủ đô kháng chiến" của miền Đông, nơi che chở các cơ quan đầu não của Xứ ủy Nam Bộ và Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ.

  • Tài thao lược của Chỉ huy trưởng Chi đội 10: Ông đứng ra thống nhất các nhóm tự vệ, du kích thành lập Chi đội 10 bộ đội Biên Hòa (sau là Trung đoàn 310) lừng danh. Dưới sự chỉ huy mưu trí của ông, bộ đội Chi đội 10 đã áp dụng lối đánh phục kích, công đồn, xuất quỷ nhập thần, lập nên những chiến công vang dội:

    • Trận tập kích tiêu diệt căn cứ Đất Cuốc;

  • Trận phục kích đoàn xe quân sự Pháp trên Đường số 16;

  • Đặc biệt là Chiến thắng La Ngà (01/03/1948) trên Quốc lộ 20: Chi đội 10 phối hợp chặt chẽ đánh tan đoàn xe quân sự gồm 59 chiếc của địch, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm lính Pháp (trong đó có Đại tá De Sériévre), làm chấn động toàn bộ giới quân sự Pháp tại Đông Dương.

  • Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu 7: Với những chiến công hiển hách, ông được bổ nhiệm làm Khu trưởng (Tư lệnh) kiêm Chính ủy Chiến khu 7, rồi Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Ông đã củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng mạng lưới đặc công thủy, bộ và phát triển phong trào kháng chiến toàn diện tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ.

  • Vị tướng thi sĩ với khúc tráng ca "Nhớ Bắc"

    Bên cạnh tài năng cầm quân xuất chúng, Huỳnh Văn Nghệ là một thi sĩ lớn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ của ông không ra đời nơi thư phòng yên tĩnh mà được viết trên lưng ngựa, dưới tán lá rừng bằng lăng giữa hai trận đánh hay bên bờ chiến hào đầy mùi khói súng:

    • Thơ Huỳnh Văn Nghệ mang đậm hào khí non sông, tính cách phóng khoáng, kiên trung của con người Nam Bộ, hòa quyện với nỗi niềm da diết hướng về cội nguồn dân tộc.

  • Bài thơ bất hủ Nhớ Bắc sáng tác năm 1940 tại Đất Tổ Hùng Vương (Phú Thọ) khi ông trên đường hoạt động cách mạng đã tạc nên câu thơ mang tính biểu tượng ngàn đời cho tâm thức mở cõi của dân tộc:

  • "Ai về xứ Bắc, ta đi với

    Gửi chút lòng thiêng bởi trượng phu

    Bên bờ Nhị Hà trăng giãi bóng

    Mơ màng nghe lại tiếng ru xưa...

    Từ thuở mang gươm đi mở cõi

    Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long."

  • Các tác phẩm thơ và văn xuôi nổi tiếng khác của ông như Bến Dược Sơn, Chiến khu Đ Lịch sử, Mẹ Bảy mươi lăm tuổi, Tiếng hát trên sông Đồng Nai... là những tư liệu lịch sử vô giá, tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng và tình thương yêu bao la đối với nhân dân lao động.

  • Trọn đời phụng sự Tổ quốc và nhân dân

    Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc, tiếp tục công tác trong quân đội và đảm nhận nhiều cương vị quan trọng:

    • Cục phó Cục Quân huấn (Bộ Tổng Tham mưu), Trưởng ban Thể dục Thể thao Quân đội;

  • Sau đó, ông được điều động sang công tác dân sự, giữ chức Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp – tiếp tục cống hiến tâm sức bảo vệ và gây dựng tài nguyên rừng của đất nước, gắn liền với ký ức về những cánh rừng Chiến khu Đ thuở kháng chiến;

  • Trong suốt những năm tháng chia cắt đất nước, ông luôn đau đáu hướng về chiến trường miền Nam, tích cực đóng góp công sức cho sự nghiệp giải phóng quê hương.

  • Do những năm tháng hoạt động gian khổ và bệnh trọng, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ đã từ trần vào ngày 5 tháng 3 năm 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 63 tuổi.

    Mốc son phong tặng danh hiệu Anh hùng năm 2010

    Cuộc đời và sự nghiệp của Huỳnh Văn Nghệ là một tượng đài mẫu mực về người chiến sĩ cộng sản kiên trung, sự kết hợp tuyệt mỹ giữa tài năng quân sự và tâm hồn nghệ sĩ lớn.

    Ghi nhận những đóng góp to lớn cho nền văn học nghệ thuật nước nhà, năm 2007, ông đã được Chủ tịch nước truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

    Ghi nhận những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, năm 2010, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ đã vinh dự được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

    Cùng với đó, ông được truy thăng quân hàm Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam và được trao tặng nhiều huân, huy chương cao quý:

    • Huân chương Độc lập hạng Nhất;

  • Huân chương Quân công hạng Nhất;

  • Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất;

  • Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.

  • Để đời đời ghi nhớ công ơn vị tướng tài hoa:

    • Tên tuổi của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Văn Nghệ được trân trọng đặt cho các tuyến đường lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Đà Nẵng, Hà Nội cùng nhiều trường học trên khắp cả nước.

  • Khu lưu niệm và tượng đài của ông được xây dựng trang nghiêm tại quê hương Tân Uyên (Bình Dương) và Khu di tích Chiến khu Đ (Đồng Nai), trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ đời sau.

  • Cuộc đời 63 mùa xuân của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Văn Nghệ là một bản anh hùng ca bi tráng và lãng mạn tột bậc. Từ người con Tân Uyên dựng cờ khởi nghĩa bên dòng sông Đồng Nai, kiến thiết Chiến khu Đ huyền thoại đến người thi sĩ để lại vần thơ bất hủ tạc vào hồn thiêng sông núi, cốt cách văn võ vẹn toàn của "Tướng quân Huỳnh Văn Nghệ" mãi mãi là niềm kiêu hãnh trường tồn của vùng đất miền Đông gian lao mà anh dũng, tạc vào lịch sử hào hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn