Bài viết

VỊ Tướng "Thép đã tôi thế đấy"

Ninh Bình26/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong câu chuyện về cuộc đời binh nghiệp của mình, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu nói rằng, cũng như nhiều thanh niên thế hệ ông khi ấy, được khoác ba lô ra chiến trường là vinh dự, lòng tự hào và khát khao cống hiến cho Tổ quốc thân yêu. Ông kể:

“Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn Nga Nikolai Ostrovsky là cuốn sách gối đầu giường của thế hệ chúng tôi – những năm tháng tuổi trẻ sống giữa lý tưởng và gian nan. Câu nói bất hủ của Pavel Korchagin: “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí…” không chỉ là một lời nhắc nhở, mà là con đường đi cho cả một thế hệ thanh niên dám sống, dám chiến đấu và dám hy sinh vì điều mình tin là đúng.

Mười bảy tuổi, tôi viết đơn tình nguyện nhập ngũ – mang theo khát vọng của “Thép đã tôi thế đấy”. Đến năm mười tám, bố tiễn tôi lên đường. Đó là buổi sáng lặng lẽ mà thiêng liêng đến nao lòng – buổi chia tay mà suốt đời tôi không thể nào quên. Những lời cha nói hôm ấy như được khắc vào tim bằng lửa.

Bố bảo: “Con phải giữ lấy danh dự của dòng họ, phải sống sao cho xứng đáng với cội nguồn. Nhớ rằng sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó – con gieo điều lành thì sẽ gặt điều lành. Đời người có khúc có đoạn, sinh có hạn mà tử thì bất kỳ. Con hãy vững tâm mà đi, mà sống, mà chiến đấu cho trọn đạo làm người, đạo làm lính”. Rồi bố tôi đọc lại lời nói của Pavel Korchagin.

Lần đầu tiên, tôi thấy bố khóc. Nhưng đó không phải là giọt nước mắt của yếu mềm, mà là nước mắt của một nghi lễ thầm lặng – nghi lễ tiễn đưa thiêng liêng giữa hai thế hệ. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng mình không chỉ mang theo ba lô và khẩu súng, mà còn mang theo một lời thề sống chết vì lý tưởng. Tôi mang theo hồn cốt của gia đình, dòng tộc và “Thép đã tôi thế đấy” – tất cả gói ghém trong niềm tin sắt đá.

- Chiến tranh diễn ra ác liệt như vậy, xin Thượng tướng chia sẻ thêm về cuộc sống của mình cũng như đồng đội tuổi 20 vào những ngày đó?

- Thời đó, tôi mới có 23 tuổi. Chúng tôi chỉ nặng 40 cân thôi, thân hình gầy gò, ốm yếu nhưng lại rất khỏe vì chúng tôi đã được trải qua rèn luyện, thử thách. Chúng tôi phải ăn lá rau rừng, như lá lốt, lá diếp cá, lá tàu bay, lá sắn và củ sắn… Thêm vào đó, chúng tôi đánh và lấy được thực phẩm của quân địch.

Đồ ăn chủ yếu là lương khô với gạo rang. Có lúc, cả đơn vị chỉ còn 6 bánh lương khô, chủ yếu để dành cho thương binh. Chúng tôi chỉ ăn cháo với rau rừng thôi. Hi sinh trong chiến trận rất nhiều, mất vì sốt rét cũng rất nhiều. Mỗi lần có một người hi sinh là cả trung đội tập hợp đưa về nơi an nghỉ trong nước mắt và đau đớn.

Lúc đó, cũng chỉ có thể chôn đồng đội bằng tấm vải dù. Chúng tôi nhặt hoa rừng, có cả hoa phong lan, đặt lên mộ mỗi người một nhánh nhằm tưởng nhớ đồng đội rồi lấy những thùng đạn đục tên tuổi để cắm lên đầu mộ. Có những khi, chúng tôi vừa chôn xong thì lại bị máy bay địch đánh bom, mộ phần anh em bị tung lên, lại phải chôn lại.

Trong điều kiện chiến tranh ác liệt đó, không có lời nào nào có thể lột tả hết nỗi niềm của người lính nhưng cái đó lại biến thành lòng căm thù, biến thành hành động để tiếp tục chiến đấu.

- Trong cuộc đời binh nghiệp của mình Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu - “Pavel Korchagin” đã từng tham gia rất nhiều trận chiến. Thượng tướng có thể nói ngắn gọn về chúng không?

- Trong suốt sự nghiệp quân ngũ, tôi đã tham gia 67 trận đánh, được phong danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 26 tuổi và trở thành Thiếu tướng khi mới 40. Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi vinh dự góp mặt ở bốn chiến dịch lớn: Mậu Thân 1968, Đường 9 - Nam Lào, Quảng Trị 1972 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.

Một kỷ niệm sâu sắc là Tết Mậu Thân 1968. Khi ấy tôi là Trung đội trưởng, cùng đồng đội làm báo tường để động viên tinh thần chiến sĩ. Tôi sáng tác bài thơ “Tết xa quê mẹ” có những câu thế này: “Tết này con bận việc quân/ Đường xuân quê mẹ vắng chân con về/ Bước đường trăm núi ngàn khe/ Vẫn nghe quấn quýt sơn quê bên mình/ Ngụy trang gió cuốn rung rinh,”Ngỡ đâu cánh bướm nặng tình quê hương”. Bài thơ được anh em thuộc lòng và ngâm vang giữa núi rừng.

Trận đánh đáng nhớ nhất là đêm 4 rạng sáng 5/4/1970 tại Sáp Đá Mài (Tân Kim, Cam Lộ, Quảng Trị). Khi đó tôi là Đại đội trưởng, chỉ huy lực lượng luồn sâu đánh cụm bộ binh cơ giới Mỹ. Sau 15 phút, chúng tôi tiêu diệt 8 xe tăng; 30 phút sau hạ thêm 8 chiếc nữa, làm chủ chiến trường, góp phần đánh bại chiến thuật “Trâu rừng” của Mỹ. Sau trận đó, tôi được bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 - đơn vị chủ công của Trung đoàn 27.

Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Tiểu đoàn tôi phục kích, đánh tan đoàn xe tiếp tế, phá vỡ tuyến hậu cần của địch. Trận mở màn Chiến dịch Quảng Trị 1972, chúng tôi đánh chia cắt, luồn sâu sau phòng tuyến địch, mở toang cửa ngõ phía Bắc - Tây Nam Quảng Trị, góp phần giải phóng hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng. Đơn vị tôi sau đó được tuyên dương là “Trung đoàn Triệu Hải anh hùng”.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tôi là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27, Quân đoàn 1. Trên đường hành quân, chúng tôi nhận được bức điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa...” – mệnh lệnh ấy như tiếp thêm lửa. Đêm 29/4/1975, khi đến Búng (gần Lái Thiêu), chúng tôi tiếp cận một cơ sở cách mạng.

Má Sáu Ngẫu – người phụ nữ lớn tuổi – đã cung cấp bản đồ và chỉ đường tấn công vào Sài Gòn. Sáng 30/4, nhờ những thông tin ấy, chúng tôi kêu gọi hơn 2.000 lính địch đầu hàng, đánh chiếm nhiều căn cứ trọng yếu và tiến vào trung tâm Sài Gòn đúng 10h30.

Bản đồ của má ngày đó tôi gìn giữ cẩn thận suốt nhiều năm và sau này trao lại cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Nhạc sĩ Văn Thành Nho cũng đã sáng tác ca khúc “Tấm bản đồ má trao” từ chính câu chuyện này- một ký ức tôi luôn khắc ghi.

Tôi (Lê Thọ Bình, tác giả bài viết này) đã từng vinh hạnh được theo chân Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu trong một đợt “Trở lại chiến trường xưa”. Đó là năm 1991, khi ấy tôi đang là phóng viên quốc tế của Báo Quân đội nhân dân. Trong hơn một tháng trời theo chân Tướng Hiệu thăm lại những nơi mà ông đã từng đóng quân, từng tham gia chiến đấu. Ông thăm hỏi, tặng quà, cám ơn những người dân từng cưu mang, đùm bọc ông và các đồng đội trong suốt những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Gặp lại những đồng đội cùng ông trong những thời khắc ác liệt nhất của những trận đánh một mất một còn với kẻ thù mới càng thấy bản lĩnh của một người lính - người chỉ huy trận mạc- Nguyễn Huy Hiệu như thế nào.

Ông Trần Văn Trực - từng là Trung úy, Đại đội trưởng bộ binh, Trung đoàn 27 nói: “Trận cầu Đông Hà ác liệt lắm. Địch giăng hỏa lực như bão lửa, nhưng anh Hiệu thì luôn có mặt ở tuyến đầu. Có lúc tôi tưởng anh ấy hy sinh rồi, vì pháo nổ ngay bên vị trí chỉ huy. Nhưng lát sau anh xuất hiện, mặt mày lấm lem, hét lớn: “Anh em bám sát! Sống chết có nhau!”. Cả đại đội như bừng dậy, xông lên như vũ bão. Có chỉ huy như thế, lính mới dám sống mái.”

Ông Nguyễn Văn Hải (từng là trinh sát viên Trung đoàn 27) nhớ lại: “Tôi từng đi cùng anh Hiệu trong một trận luồn sâu đánh vào cứ điểm chỉ huy địch phía sau Đông Hà, Quảng Trị. Anh đi đầu đội hình trinh sát, từng bước vượt qua bãi mìn. Khi pháo địch dội xuống, anh nằm ép sát đất, rồi lại đứng dậy rất nhanh để xác định hướng tiến công. Anh ấy không bao giờ ra lệnh từ xa. Luôn có mặt nơi nguy hiểm nhất. Lính trinh sát chúng tôi gọi anh là ‘người không sợ chết’.”

Còn Thiếu tá Nguyễn Hữu Lập, nguyên Chính trị viên tiểu đoàn pháo binh yểm trợ của Trung đoàn 27 thì kể: “Hôm đó pháo binh chúng tôi đang bị không kích, không bắn được. Anh Hiệu điện về: “Không cần pháo nữa! Tôi cho bộ binh áp sát. Cứ thế tiến công!”. Tôi sững sờ. Bộ binh mà không có hỏa lực thì như cởi trần lao vào lửa. Nhưng khi nghe tin anh Hiệu đã cùng tổ xung kích vượt qua tuyến phòng ngự thứ nhất, chúng tôi hiểu – đó là đòn quyết đoán của một người chỉ huy tin vào thế trận và tin vào lính của mình.”

Thì ra, hình ảnh Pavel Korchagin không chỉ là mộng tưởng văn chương, mà đã hóa thân vào biết bao con người Việt Nam thời chiến tranh. Một trong những hiện thân sống động và kiêu hùng nhất chính là Anh hùng Lực lượng vũ trang, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu- người ra trận năm mười bảy tuổi, mang theo không chỉ súng đạn mà cả niềm tin thiêng liêng vào đất nước và vào chính nghĩa của dân tộc mình.

Không có bước chân nào ông đi mà không in dấu khát vọng chiến đấu. Không có chiến công nào ông lập mà thiếu đi bóng dáng của một tâm hồn trăn trở, kỷ luật và kiên cường – như thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh của lịch sử.”

- Trong câu chuyện vừa kể, Thượng tướng có nhắc đến “Tấm bản đồ của má Sáu”. Câu chuyện đó cụ thể như thế nào, thưa Thượng tướng?

- Theo quy định của mặt trận, chúng tôi bắt liên lạc với cơ sở, đợt đó anh Sáu Châu - Huyện đội đi cùng chị Hai Mỹ, qua khu nghĩa địa vào Búng thì trời tối sập. Ở đó có một đại đội bảo an dân vệ của địch, thỉnh thoảng chúng bắn súng đì đùng. Chúng tôi phát hiện một ngôi nhà trong khu Búng, có ánh đèn dầu le lói.

Tôi nhận định: Có thể đây là cơ sở cách mạng của ta, nên cho trinh sát bò vào gần sát ngôi nhà thì phát tín hiệu “Hồ Chí Minh” 3 lần, trong ngôi nhà có tiếng vọng ra “Muôn năm”, chúng tôi mừng khôn xiết, đúng là cơ sở cách mạng của mình, một bà má mở cửa bước ra, liền đưa chúng tôi vào nhà.

Trong nhà có cái bàn đơn sơ, trên để một chiếc đèn dầu hỏa. Má tên là Sáu Ngẫu, chồng má là Hai Nhương bị địch bắt năm Mậu Thân (1968) địch đày ra Côn Đảo rồi hy sinh tại đó. Má có hai con, con gái là Phước 16 tuổi, con trai là Đức 14 tuổi. Tôi nói với má: “Chúng con có nhiệm vụ ngày mai theo trục đường 13 vào Sài Gòn, nhờ má cung cấp thông tin, chúng con không biết đường đi từ đây vào Sài Gòn”.

Tôi đưa tấm bản đồ cho má xem, má cúi xuống nhìn bản đồ, nói: “Má không rành tấm bản đồ này”. Má vào buồng lấy ra tấm bản đồ khác của má, chữ của má rất đẹp (sau này tôi mới biết má từng là cô giáo dạy tiếng Pháp) đánh dấu ghi kí hiệu quan trọng trên bản đồ.

Má Sáu cho biết: “Từ đây, theo trục đường 13 vào Lái Thiêu có trường Huỳnh Văn Lương, đào tạo hạ sĩ quan địch do một đại tá chỉ huy khoảng 2.000 học viên. Chúng đang rất hoang mang, không nên đánh vào đây, để án binh bất động, nên gọi chúng đầu hàng để khỏi tốn đạn và hy sinh xương máu của quân ta. Cần đánh thẳng vào Lái Thiêu, địch bị vỡ trận ở Bến Cát, chúng đang dồn quân vào cố thủ Sài Gòn, có cả xe tăng, tiểu đoàn bảo an dân vệ”.

Khó nhất là ở cầu Vĩnh Bình, chúng để chướng ngại vật, rào dây kẽm gai, gài mìn xung quanh cầu, nếu không chiếm được cầu thì không thể có đường vào Sài Gòn, nên phải chiếm bằng được cầu. Má nói: “Bộ binh đi qua đường sắt, còn xe tăng không đi được, cứ đi theo trục đường 13 sẽ vào thẳng Sài Gòn”. Chúng tôi cảm ơn má, thực hiện đúng như lời má chỉ dẫn và hứa sẽ quay lại thăm má ngay sau khi quyết chiến và toàn thắng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn