Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Vị tướng trẻ nhất trong 10 tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam, viết Lịch sử Đảng trong tù, được ông Lê Đức Thọ xe duyên

Lê Hiến Mai là vị tướng trẻ nhất trong 10 tướng lĩnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được phong quân hàm năm 1948. Cuộc đời ông còn gắn với nhiều dấu mốc đặc biệt: từng chép cuốn Lịch sử Đảng trong những năm tháng bị giam cầm và sau này nên duyên với người bạn đời qua sự mai mối của ông Lê Đức Thọ.

Hà Nội31/10/2026Đỗ Hiếu Trường Hải (Phường Hòa Hưng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trung tướng Lê Hiến Mai - Vị tướng trẻ nhất trong 10 tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam, viết cuốn Lịch sử Đảng trong tù

Theo các tài liệu lịch sử ghi chép, tháng 1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký các sắc lệnh phong quân hàm cấp tướng cho 10 cán bộ ưu tú của Quân đội nhân dân Việt Nam, gồm 1 Đại tướng (Võ Nguyên Giáp), 1 Trung tướng (Nguyễn Bình) và 8 Thiếu tướng (Hoàng Văn Thái, Nguyễn Sơn, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Hiến Mai và Trần Đại Nghĩa).

Trong đó, người nhiều tuổi nhất là Thiếu tướng Trần Tử Bình (sinh năm 1907, tức 41 tuổi tại thời điểm được thụ phong, lúc đó ông là Trưởng phòng Kiểm tra cán bộ) còn người trẻ nhất là Thiếu tướng Lê Hiến Mai (sinh năm 1918, khi ấy ông vừa tròn 30 tuổi, đang là Chính trị ủy viên Chiến khu II).

Trung tướng Lê Hiến Mai tên thật là Nguyễn Văn Phường, sinh ngày 23/11/1918 tại xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (cũ), nay là Hà Nội. Ông sinh ra trong một gia đình trung nông khá giả nhưng tuổi thơ sớm chịu nhiều mất mát khi cha qua đời lúc ông mới 4 tuổi. Từ đó, Nguyễn Văn Phường được người bác cưu mang, nuôi dưỡng. Đến năm 18 tuổi, ông bắt đầu đi dạy học, tự kiếm sống và từng bước gây dựng cuộc đời bằng chính sức mình.

Trung tướng Lê Hiến Mai. Ảnh: Tư liệu.

Bước ngoặt lớn đến vào năm 1939, khi Nguyễn Văn Phường có cơ duyên gặp nhà cách mạng Phan Trọng Tuệ. Được giác ngộ lý tưởng và trực tiếp dìu dắt, ông từ một người thầy giáo trẻ dần bước vào con đường hoạt động cách mạng, gắn cuộc đời mình với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Năm 1941, trong một chuyến đi xây dựng cơ sở cách mạng, Nguyễn Văn Phường bị thực dân Pháp bắt. Ban đầu, ông bị giam tại Sơn Tây, sau đó bị chuyển về Hà Nội. Đến năm 1942, ông tiếp tục bị đày lên Nhà tù Sơn La - nơi nổi tiếng với chế độ giam cầm khắc nghiệt của thực dân Pháp.

Tại đây, Nguyễn Văn Phường có điều kiện gặp gỡ nhiều chiến sĩ cách mạng như Song Hào, Trần Thế Môn, Nhị Quý, Lê Trung Đình… Dù phải sống trong cảnh tù đày thiếu thốn, bệnh tật và sự đàn áp hà khắc, những người cộng sản vẫn giữ vững khí tiết, biến nhà tù thành nơi học tập, rèn luyện và tiếp tục hoạt động cách mạng.

Một câu chuyện đặc biệt gắn với Nguyễn Văn Phường diễn ra nhân dịp kỷ niệm 12 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương - ngày 3/2/1942. Trong Nhà tù Sơn La, ông được các đồng chí tin tưởng giao nhiệm vụ chắp bút, ghi lại lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Đảng.

Để có vật liệu viết, những người tù cách mạng đã gom khoảng 50 mảnh giấy nhỏ do cơ sở bên ngoài bí mật chuyển vào. Bằng sự cẩn thận và khéo léo, Nguyễn Văn Phường khâu những mẩu giấy rời thành một cuốn sổ nhỏ chỉ khoảng 7 x 9 cm. Cuốn sổ đặc biệt ấy được ông dành để ghi chép lại lược sử của Đảng. Sau khi hoàn thành, bản lược sử được chuyển tới Chi bộ nhà tù để các đồng chí góp ý, chỉnh sửa.

Play

00:00

00:00

00:34

Mute

Play

Tháng 8/1944, Nguyễn Văn Phường vượt ngục, trở lại hoạt động cách mạng và tham gia Cứu quốc quân. Ông lần lượt đảm nhiệm các cương vị Ủy viên Phân khu ủy Phân khu Tuyên - Thái, phái viên chính trị của Giải phóng quân phụ trách Mặt trận Sầm Nưa, Xiêng Khoảng tại Lào, rồi Chính trị viên, Bí thư Trung đoàn ủy.

Tháng 3/1946, Lê Hiến Mai được giao giữ chức Chính ủy kiêm Tham mưu trưởng, Bí thư Quân khu ủy Chiến khu 2, đồng thời làm Chính ủy Trường Bổ túc quân sự Ủy viên hội. Từ tháng 2/1947 đến tháng 9/1949, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Chính ủy Mặt trận Tây Tiến, Chính ủy Liên khu 1, công tác tại Bộ Tư lệnh Nam Bộ và Phân liên khu miền Đông Nam Bộ.

Năm 1953, ông giữ chức Tư lệnh, Bí thư Quân khu ủy Phân liên khu miền Tây Nam Bộ. Sau Hiệp định Genève năm 1954, Lê Hiến Mai tập kết ra Bắc, tiếp tục công tác trong quân đội. Đến năm 1958, ông làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Không chỉ đảm nhiệm những trọng trách trong quân đội, Lê Hiến Mai còn được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nước. Tháng 7/1960, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và Điện lực, sau đó chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp.

Tháng 4/1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, ông trở lại quân đội trên cương vị Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu 4 và Ủy viên Quân ủy Trung ương. Năm 1967, ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Ủy viên Thường trực Quân ủy Trung ương, đồng thời kiêm Giám đốc Học viện Chính trị Quân sự.

Từ tháng 6/1971, Lê Hiến Mai tiếp tục được giao kiêm nhiệm chức Bộ trưởng, Bí thư Đảng đoàn Bộ Nội vụ.

Trung tướng Lê Hiến Mai (trái), Đại tướng Văn Tiến Dũng (giữa) và Thượng tướng Song Hào, tại kỳ họp Quốc hội hóa VI, ngày 1/7/1976. Ảnh: Hoalo.vn

Đến năm 1974, Thiếu tướng Lê Hiến Mai được phong hàm Trung tướng.

Năm 1976, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội, đồng thời làm Chủ nhiệm Ủy ban Điều tra tội ác chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Đến năm 1982, ông đảm nhiệm cương vị Chủ nhiệm Ủy ban Y tế - Xã hội của Quốc hội và tiếp tục kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Điều tra tội ác chiến tranh xâm lược.

Năm 1990, khi Hội Cựu chiến binh Việt Nam đang trong giai đoạn đầu xây dựng tổ chức, Trung tướng Lê Hiến Mai được giao làm Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Hội.

Trải qua nhiều thập kỷ hoạt động cách mạng, Lê Hiến Mai từng đảm nhiệm nhiều trọng trách trên cả lĩnh vực quân sự, chính trị và quản lý Nhà nước. Trung tướng Lê Hiến Mai qua đời năm 1992, khép lại một cuộc đời gắn liền với nhiều giai đoạn quan trọng của cách mạng và quân đội Việt Nam.

Được đồng chí Lê Đức Thọ xe duyên

Tháng 8/1948, khi đang công tác trên cương vị Chính trị viên Chiến khu 2, Lê Hiến Mai nhận lệnh vào Nam Bộ. Sau khi Trung tướng Nguyễn Bình hy sinh, ông được giao tiếp tục đảm nhiệm phần công việc mà người tiền nhiệm để lại. Những năm hoạt động tại chiến trường Nam Bộ cũng là quãng thời gian ông có điều kiện sống, chiến đấu và làm việc gần gũi với nhiều cán bộ lãnh đạo như Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Thọ.

Cũng trong những năm tháng ấy, Lê Hiến Mai gặp bà Ngô Duy Liên, khi đó là cán bộ phụ nữ làm công tác tuyên truyền, vận động tại tỉnh Bạc Liêu. Mỗi lần xuống địa phương công tác, ông thường ghé thăm gia đình bà Liên. Qua những lần gặp gỡ, giữa hai người dần hình thành sự cảm mến.

Người góp phần xe duyên cho họ chính là ông Lê Đức Thọ. Vốn thân thiết và coi bà Ngô Duy Liên như em gái trong nhà, ông Lê Đức Thọ từng gợi ý bà tìm hiểu Lê Hiến Mai. Ông nói về người đồng chí của mình bằng sự tin cậy, đồng thời nhắc đến hoàn cảnh riêng nhiều mất mát của Lê Hiến Mai: sớm mồ côi, xa gia đình và từ khi vào Nam gần như mất liên lạc với người thân.

Bà Bảy Huệ - vợ ông Nguyễn Văn Linh và cũng là chị gái bà Ngô Duy Liên, sau đó cũng động viên em gái tìm hiểu người cán bộ quân đội này. Từ sự cảm mến ban đầu, bà Liên dần dành cho Lê Hiến Mai một tình cảm đặc biệt. Chính tuổi thơ nhiều gian khó cùng nghị lực và bản lĩnh của ông khiến bà càng thêm yêu quý, cảm phục, rồi quyết định gắn bó cuộc đời với ông.

Một thời gian sau, Lê Hiến Mai và Ngô Duy Liên tổ chức lễ cưới ngay giữa chiến khu. Theo hồi ức của bà Liên, hôm ấy tại Trăng Bằng Cán Gáp, còn gọi là Biển Bạch, thuộc huyện Thái Bình, tỉnh Bạc Liêu, miền Tây đang tổ chức hội nghị tuyên truyền về chiến thắng Điện Biên Phủ. Sau khi hội nghị kết thúc, ông Lê Đức Thọ bất ngờ tuyên bố lễ thành hôn của hai người.

Trong ký ức của bà Ngô Duy Liên, đó là một đám cưới đặc biệt giữa thời chiến, giản dị nhưng vô cùng đầm ấm. Anh em trong đơn vị mổ một con trâu lớn làm cỗ. Ông Lê Đức Thọ đứng ra làm chủ hôn phía nhà trai, còn ông Ung Văn Khiêm - khi đó là Chủ tịch tỉnh Bạc Liêu, làm chủ hôn phía nhà gái.

Món quà cưới khiến hai vợ chồng nhớ mãi là đôi gối do những người đồng chí đang bị giam tại Nhà tù Côn Đảo gửi tặng. Trên gối thêu hình đôi vịt cùng những bông sen màu xanh nước biển, tất cả đều được các tù nhân tự tay làm trong điều kiện bị giam cầm. Giữa khói lửa chiến tranh, lễ cưới ấy trở thành một kỷ niệm đặc biệt trong cuộc đời Trung tướng Lê Hiến Mai và người bạn đời Ngô Duy Liên.

Ông là một trong các tướng được phong quân hàm trong đợt đầu.

Phần thưởng được Đảng Nhà nước trao tặng:

-      Huân chương Hồ Chí Minh

-      Huân chương Quân công hạng Nhất

-      Huân chương Chiến thắng hạng Nhất

-      Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Thiếu tướng vào năm 1948; Trung tướng năm 1974.

 

Tướng Lê Hiến Mai tên thật là Dương Quốc Chính; quê xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội), tham gia cách mạng từ năm 1939. Năm 1940, là thư ký Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên phản đế tỉnh Sơn Tây. Từ 1941 đến 1944, bị thực dân Pháp bắt giam và đày đi tù ở nhiều nơi. Tháng 8/1944, ông vượt ngục, tham gia Cứu quốc quân, lấy bí danh Lê Hiến Mai, giữ chức Ủy viên phân khu ủy Phân khu Tuyên - Thái; Phái viên chính trị Giải phóng quân phụ trách Mặt trận Sầm Nưa, Xiêng Khoảng (Lào); Chính trị viên, Bí thư trung đoàn ủy.

Tháng 3/1946, ông giữ chức Chính ủy, kiêm Tham mưu trưởng, Bí thư quân khu ủy Chiến khu 2, kiêm Chính ủy Trường bổ túc quân sự ủy viên hội. Từ tháng 2/1947 đến tháng 9/1949, lần lượt giữ các chức vụ Chính ủy Mặt trận Tây Tiến, Liên khu 1, Bộ Tư lệnh Nam Bộ, kiêm Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. 1953, là Tư lệnh, Bí thư quân khu ủy Phân liên khu miền Tây Nam Bộ. Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc làm Chính ủy, Bí thư đảng ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh (1958).

Tháng 7/1960, ông làm Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và Điện lực rồi Bộ Nông nghiệp. Tháng 4/1965, là Chính ủy, Bí thư đảng ủy Quân khu 4, Ủy viên Quân ủy Trung ương. Năm 1967, ông làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Ủy viên thường trực Quân ủy Trung ương, kiêm Giám đốc Học viện Chính trị Quân sự; từ tháng 6 năm 1971: kiêm Bộ trưởng, Bí thư đảng đoàn Bộ Nội vụ (sau đổi là Bộ Thương binh và Xã hội).

Năm 1976, ông làm Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Điều tra tội ác chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Năm 1982, là Chủ nhiệm Ủy ban Y tế - Xã hội của Quốc hội, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Điều tra tội ác chiến tranh xâm lược. Năm 1990, ông làm Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Trung tướng Lê Hiến Mai mất năm 1992.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn