Việt Nam Giải phóng quân
Ngày 15/4/1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ quyết định Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sáp nhập với lực lượng Cứu quốc quân, đổi tên thành Việt Nam Giải phóng quân.
Lễ hợp nhất được tổ chức vào ngày 15/5/1945 tại Định Biên Thượng (Định Hóa, Thái Nguyên), đánh dấu sự ra đời lực lượng quân sự chủ lực của Việt Minh.
Tham dự buổi lễ thống nhất có lực lượng của Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân từ Cao Bằng xuống, lực lượng Cứu quốc quân 2 do Chu Văn Tấn phụ trách từ Bắc Sơn - Võ Nhai _ Đại Từ lên và lực lượng Cứu quốc quân 3 do các đồng chí Song Hào. Tạ Xuân Thu phụ trách từ Tuyên Quang Sang. Tại buổi lễ, đồng chí Võ Nguyên Giáp tuyên bố thống nhất các đơn vị Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân cùng các tổ chức vũ trang cách mạng tập trung của cả nước thành Việt Nam Giải phóng quân, đội quân chủ lực của cách mạng, do Đảng lãnh đạo.
Việt Nam Giải phóng quân là bộ đội chủ lực của cả nước, có chỉ huy thống nhất và hệ thống tổ chức chặt chẽ. Bộ Tư lệnh của Việt Nam Giải phóng quân gồm các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh và Chu Văn Tấn.
Cán bộ chỉ huy các đơn vị của Việt Nam Giải phóng quân hầu hết là những đội viên của Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân, trưởng thành lên, đó là những cán bộ kiên quyết cách mạng, có kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu và lãnh đạo phát động chiến tranh du kích.
Những đội viên mới bổ sung vào Việt Nam giải phóng quân phần lớn là nông dân, du kích, tự vệ được lựa chọn từ cơ sở cách mạng, ít nhiều đã trải qua chiến đấu.
Về tổ chức biên chế, Việt Nam Giải phóng quân gồm 13 đại đội, được tổ chức thống nhất từ tiểu đội, trung đội lên đến đại đội, mỗi tiểu đội 12 người, 3 tiểu đội thành một trung đội, 3 trung đội thành một đại đội.
Về vũ khí trang bị, Việt Nam Giải phóng quân có hàng nghìn khẩu súng các loại, trong đó có súng máy, súng cối 60 mm, hàng chục tấn đạn thu được của địch và có một số xưởng sửa chữa, chế tạo vũ khí thô sơ[4].
Cũng như các lực lượng quân sự trước đây, Việt Nam Giải phóng quân hết sức quan tâm đến công tác chính trị tư tưởng, công tác xây dựng Đảng và vấn đề đoàn kết nội bộ, cũng như công tác dân vận, đó là những yêu cầu đối với người chiến sĩ Việt Nam Giải phóng quân trong bối cảnh lực lượng vũ trang là nòng cốt cho cuộc đấu tranh cách mạng giành chính quyền.
Như vậy, đến tháng 5/1945, các đội quân tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thống nhất trong Việt Nam Giải phóng quân và lực lượng này đã đóng góp vai trò quan trọng vào cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.



