Cuốn sách này là sự kế tục cuốn "Việt Nam- Những sự kiện quân sự thế kỷ XIX", do Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức biên soạn và đã được xuất bản năm 1999. Ghi chép lại những sự kiện đã diễn ra thuộc lĩnh vực quân sự tức là hoạt động đặc biệt của xã hội về đấu tranh vũ trang, chiến tranh, quân đội và các hoạt động khác liên quan đến quân sự là một việc khó khăn, phức tạp; đòi hỏi nhiều công phu nghiên cứu, sưu tầm tư liệu. Các tác giả đã cố gắng thu thập, đối chiếu, so sánh sử liệu nhiều nguồn, từ chính sử đến các hồ sơ lưu trữ, sách, tạp chí và hệ thống hóa các sự kiện.
Những sự kiện được ghi chép trong cuốn sách phần lớn không đặt tên. Đối vói các sự kiện lớn, tiêu biểu được đặt tên, viết đủ các yếu tố: thời gian, địa điểm, nội dung, ý nghĩa và tác dụng của nó. Với các sự kiện không đặt tiêu đề thì viết thẳng nội dung, ít phân tích, đánh giá ý nghĩa, tác dụng từng sự kiện. Tất cả được .để cập phản ảnh hết sức phong phú, đa dạng, có sự kiện chung, có sự kiện xảy ra ở một cơ quan, đơn vị, địa phương, ở một thời điểm nhất định, nhưng đểu có vai trò lịch sử quân sự dân tộc.
Các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược trong những năm 1858 - 1940 tuy gặp khó khăn và tạm thời thất bại, nhưng phản ảnh ỷ chí chiến đấu kiên cường, tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân ta. Từ năm 1941 trở đi, hầu hết những sự kiện được đề cập đều thể hiện cuộc đấu tranh của dân tộc diễn ra vô cùng gian khổ, quyết liệt; tiêu biểu là khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám; tiếp đó là kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi; khảng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng thống nhất Tổ quốc; cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyển toàn vẹn lãnh thổ; cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu phả hoại nhiều mặt của đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đối với một số sự kiện chưa thể tra cứu đầy đủ tư liệu các tác giả thận trọng mô tả tóm tắt. Bên cạnh đó cũng có một số sự kiện được ghi mang tính thông tin.
Với cách thể hiện các loại sự kiện như vậy, chúng tôi nghĩ rằng cuốn "Việt Nam thế ký XX - Những sự kiện quân sự" là một công cu tra cứu bổ ích, có tác dụng phục vụ việc nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử quân sự giai đoạn này. Mặc dù các tác giả đã có nhiều cố gắng sưu tẩm tư liệu, so sánh, đối chiếu và có ý thức ghi chép các sự kiện một cách khách quan, cân đối, hài hòa trên các mặt hoạt động qussn sự, nhưng cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam rất mong nhận được ỷ kiến đóng góp, phê binh, bổ sung tư liệu của các cơ quan, đơn vị, nhà nghiên cứu cùng bạn đọc để sửa chữa, bổ sung cho lần xuất bản sau có chất lượng tốt hơn.
Nhân dịp cuốn "Việt Nam thế kỷ XX - Những sự kiện quân sự" được xuất bản, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xin chân thành cảm ơn các cơ quan, đơn vị, các nhà khoa học trong và ngoài quân đội cùng Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã nhiệt tình cộng tác, giúp đỡ cho cuốn sách được ra mắt bạn đọc.
VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM | |
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Hai, 2021, 10:35:24 am gửi bởi ptlinh » | Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự« Trả lời #1 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2016, 09:19:26 am » | Năm 1901 Những năm cuối thế kỷ XIX, hoạt động quân sự của dân tộc ta có nội dung chủ yếu là đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, tiêu biểu như phong trào Cần Vương, phong trào nông dân Yên Thế và phong trào đấu tranh của các dân tộc ít người. Bước sang thế kỷ XX, các hoạt động quân sự đó vẫn tiếp diễn, liên tục khắp cả nước, thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất vì nền độc lập của nhân dân ta.
Tháng 1
Đồng bào Xê Đăng dưới sự lãnh đạo của tù trưởng I Rê khởi nghĩa chống Pháp ở Kon Tum. Nghĩa quân Xê Đăng mở rộng địa bàn hoạt động, phối hợp với nghĩa quân người Lào trên cao nguyên Bô Lô Ven tiến công quân Pháp đóng ở ngã ba sông Đắc Psi và sông Pô Kô. Khởi nghĩa lan rộng về phía tây và phía bắc biên giới Việt-Lào, khiến cho quân Phập đối phó lúng túng và chịu nhiều thiệt hại. Cuộc khởi nghĩa kéo dài đến năm 1902 thì bị dập tắt.
27 tháng 5
Nghĩa quân Xê Đăng tiến công đồn Đắc Tô (Kon Tum), diệt tên đồn trưởng Rô-be (Robert), phá huỷ các công sự và nhà ở của binh lính trong đồn, đánh bại âm mưu bắt dân phu xây đồn của Pháp.
10 tháng 6
Nghĩa quân Xê Đăng bao vây tiến công quấy phá đồn địch ở Đâc Rơ Lây. Cuộc bao vây của nghĩa quân kéo dài trong 10 tháng. Cùng thời gian này, nghĩa quân tiến công đồn Kôn Kô Tu và liên tục phục kích các toán quân Pháp trên đường hành quân, gây cho chúng một số thiệt hại về người và vũ khí.
15 tháng 8
Nghĩa quân Xê Đăng (Kon Tum) tiến công đồn Nong Pôi, diệt tên giám binh Hăng-ri (Henri). Tiếp đó, nghĩa quân tổ chức phục kích quân Pháp ở Kapeu, diệt tên giám binh Si-cơ-rơ (Sicre) cùng một số lính.
Tháng 10
Thực dân Pháp thành lập Ban Điện báo viên quân sự toàn Đông Dương (Section de Télégraphistes militaires).
Trong năm 1901
Đồng bào Dao, dưới sự chỉ huy của Triệu Tiến Kiên và Triệu Tài Lộc khởi nghĩa chống Pháp ở vùng Bác Quang (Hà Giang). Nghĩa quân tiến công đồn Năm Lốp (Bắc Quang) và Bác Hà (Lào Cai) gây cho địch một số thiệt hại. Trong trận này, Triệu Tiến Kiên đã anh dũng hy sinh. Năm 1902 Tháng 1
Đồng bào Gia Rai vùng Thăng Mo (Bình Định) nổi dậy chống Pháp. Nhiều tên tay sai của Pháp đi về các địa phương thu thuế, bắt phu, bắt lính đã bị nghĩa quân trừng tri Thực dân Pháp tổ chức các đội quân tuần tiễu lùng bắt nghĩa quân. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân tiếp tục được duy trì lan rộng ra khắp tỉnh Plây Ku, vùng tây nam tỉnh Kon Tum và phía bắc tinh Đắc Lắc, kéo dài đến năm 1904.
31 tháng 10
Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập Hội đồng phòng thủ (Conseil de défense) ở mỗi thuộc địa của Pháp. Nhiệm vụ của Hội đồng phòng thủ là nghiên cứu những vấn đề thuộc về tổ chức quân đội, về bảo vệ thuộc địa theo yêu Cầu của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa hoặc Toàn quyền trực tiếp cai trị xứ thuộc địa đó. Thành phần Hội đồng phòng thủ gồm: Toàn quyền (chủ tịch Hội đồng); Tổng chỉ huy tối cao lực lượng chiếm đóng thuộc địa (phó chủ tịch Hội đồng); ba ủy viên hội đồng là Tư lệnh bộ binh, Tư lệnh pháo binh và Tổng tham mưu trưởng quân đội đóng chiếm thuộc địa. Từ đây, Hội đồng phòng thủ Đồng Dương được thành lập.
6 tháng 12
Nghĩa quân vùng Trê Lương Pê (Phan Rang) bố trí chông, bẫy và tổ chức phục kích quân Pháp đi càn tại địa phương, diệt một lính khố xanh, làm bị thương giám binh Ca-ni-vây (Canivey) và một số binh lính. Năm 1903 Tháng 9
Người Hơ Rê dưới sự lãnh đạo của Tia Cao khởi nghĩa chống Pháp ờ vùng Huấn Phong (Quảng Ngải). Giám binh Ha-ghê (Haguet) đưa quân đến đàn áp. Nghĩa quân chiến đấu quyết liệt ở Mang Giang, Lang Mút, Mu Lang..., gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự« Trả lời #2 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2016, 11:59:26 am » | Năm 1904 Tháng 3
Nghĩa quân người Thượng (Quảng Nam) phục kích một toán lính khố xanh ở gần đồn Mang Ta, diệt một lính và một cai, thu vũ khí của chúng.
Tháng 4
Nghĩa quân Gia Rai (Plây Ku) dưới sự chỉ huy của tù trưởng Pơ Tao Pui phục kích, diệt tên công sứ Ô-đăng-đan (Odendhal) và một số tên tay sai, khi chúng đi khảo sát điều tra, chuẩn bị cho cuộc đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ở đây.
5 tháng 5
Toàn quyền Đông Dương ra nghị định lệnh cho lực lượng vũ trang các cấp phải sẵn sàng điều quân hỗ trợ giới cầm quyền dân sự khi cần. Nghị định quy định một số nguyên tắc cơ bản như sau:
1. Đối với dân sự: Các thống đốc, thống sứ, khâm sứ, công sứ, quan cai trị tỉnh, giám đốc nhà tù Côn Đảo, giám đốc sở tư pháp, các viên chánh án, các viên quan tòa hòa giải, các viên chánh cẩm có quyền đề nghị bên quân sự hỗ trợ, điều động lực lượng giải tán đám đông; đàn áp hay giữ gìn trật tự. Trường hợp khẩn cấp có thề sử dụng điện tín hoặc điên thoại báo cho bên quân sự biết về đối tượng cùa việc điều quân.
2 Đối với bên quân sự: Chỉ được hành động khi nhận được công văn của bên dân sự. Người trực tiếp chỉ huy lực lượng quân sự được hành động độc lập đối với giới cầm quyền dân sự. Trường hợp quan trọng, người chỉ huy có thể hội bàn với bên dân sự, song quyết định thuộc về phía quân sự Khi phối hợp hành động giữa lực lượng cảnh sát và lực lượng quân đội, quyền chỉ huy chung thuộc về quân đội.
Tháng 5
Thành lập Duy Tân hội. Phan Bội Châu cùng Cường Để, Nguyễn Hàm và hơn 20 nghĩa sĩ họp tại nhà riêng của Nguyễn Hàm ở Quảng Nam quyết định thành lập một tổ chức bí mật mang tên là Duy Tân hội. Mục đích chính của hội là đánh Pháp, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Nhiệm vụ trước mắt là phát triển thế lực hội về người và tài chính; xúc tiến việc chuẩn bị bạo động và xuất dương cầu viện.
Nhiệm vụ xuất dương được giao cho Phan Bội Châu, Nguyễn Hàm đảm nhiệm. Các sĩ phu khác tổ chức phát triển bạo động trong nước nhằm gây thanh thế về ngoại giao.
Tháng 10
Đồng bào Dao ở Yên Bái dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh Lý Văn Minh, Triệu Tất Tiến... tiến công các đồn Pháp ở Trái Hút, Bảo Hà, Lục Yên Châu, gây cho địch một số thiệt hại.
1 tháng 11
- Tống thống Pháp ra sác lệnh bắt thanh niên ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ từ 22 tuổi đến 28 tuổi phải đi lính cho Pháp.
Thời hạn tại ngũ là 5 năm, hết hạn có thể xin ở lại. Hạn tại ngủ tối đa là 20 năm.
- Tổng thống Pháp ban bố sắc lệnh tổ chức lực lượng quân dự bị người bản xứ ở Đông Dương (Réserves Indigenes en Indochine). Lực lượng này mỗi năm phải luyện tập tối đa 15 ngày và được động viên từng khoá hay toàn bộ khi cần thiết.
5 tháng 11
Tống thống Pháp ra sắc lệnh thành lập những trung đội công binh người bản xứ toàn Đông Dương.
Trong năm 1904
Tại Bình Định, nông dân ở Châu Vao (Đak Jơ Pan) nổi dậy đấu tranh, không cho các chủ đồn điền Đờ-li-nhông (Delignon) và Pa-ri (Paris) lấy 500 mẫu đất để lập đồn điền trồng dâu nuôi tằm. Khâm sứ Trung Kỳ phải cử giám binh, 5 tên đội và 1 đơn vị lính khố xanh đến đàn áp.
Năm 1905 Tháng 1
Đồng bào Ba Na nổi dậy chống Pháp ở vùng Kon Chơ Răk (Plây Ku). Địch phải điều 150 lính khố xanh đến đàn áp. Chúng dụ dỗ và dùng vũ lực uy hiếp tù trưởng Khuôn của 8 làng xưng quanh Plây Ku hàng phục, nhưng tù trưởng Tai - người Gia Rai, thủ lĩnh của 21 làng ờ Plây Bring nhất định không theo địch. Người Gia Rai triệt để thi hành bất hợp tác với địch, không bán lương thực cho chúng. Giặc phai rút lui, dọc đường bị nghĩa quân phục kích.
Tháng 2
Tại Buôn Ma Thuột, đồng bào Ê Đê dưới sự chỉ huy của tù trưởng A Ma Dơ Hao chiến đấu chống lại cuộc tiến công của quân pháp vào căn cứ. Dựa vào công sự nghĩa quân chiến đấu dũng cảm, gây cho địch một số thiệt hại. Sau hơn ba tháng chiến đấu, nghĩa quân gặp khó khăn, A Ma Dơ Hao cùng 400 người phải rút vào rừng. Địch truy đuổi, đến tháng 6 năm 1905 £ Ma Dơ Hao bị bắt. Cuộc đấu tranh chống bắt phu của đồng bào Ê Đê bắt đầu từ năm 1901 đến đây bị dập tắt.
26 tháng 4
Thi hành sắc lệnh về thành lập những trung đội công binh người bản xứ toàn Đông Dương (5-11-1904) của Tổng thống Pháp, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập hai trung đội công binh người Việt Nam: một trung đội ở Bắc Kỳ và một trung đội ở Nam Kỳ.
Tháng 6
Đồng bào Kà Tu ở các làng A Sơ, A Yeung, A Bác tiến công đồn An Điềm (Đại Lộc, Quảng Nam). Địch huy động 50 lính, tên dội Phê-rê (Feref) chỉ huy kéo đến càn quét 3 làng. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt; nghĩa quân dùng bẫy chông, tên nỏ và giáo mác chặn đánh, làm Phê-rê và một số linh bị thương.
Cuối tháng 7
Ba thanh niên Việt Nam (gồm Nguyễn Thức Canh, Nguyên Điển, Lê Khiết) được Phan Bội Châu đưa sang Nhật du học mở đầu phong trào Đông Du của Duy Tân hội (đến năm 1908 số người được đưa sang khoảng 200). Học sinh Việt Nam được vào học trường Chấn Vũ quân sự Học hiệu, Đông Á Đồng Văn thư viện và một số trường khác. Nội dung chú trọng nhất là học tập quân sự (học vào các buổi chiều) nhằm đào tạo những người có trình độ quân sự cần thiết để đánh Pháp, cứu nước. Một số học sinh được đào tạo trong phong trào Đông Du đã góp phần chuẩn bị cho bạo động vũ trang sau này (Lương Lập Nham là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên 1917, Hoàng Trọng Mậu là một yếu nhân của Việt Nam Quang phục hội...).
Năm 1906 Tháng 6
Đồng bào dân tộc ít người vùng A Xôc, A Bắc thuộc Phan Rang xây dựng căn cứ chống Pháp. Nghĩa quân tiến công đồn An Diêm, gây cho địch một số thiệt hại. Giặc Pháp huy động binh lính đến đàn áp, nghĩa quân phục kích, diệt viên thiếu úy và một số binh lính địch.
Tháng 12
Phan Bội Châu từ Nhật trở về nước, đến Phồn Xương (Bắc Giang) gặp Hoàng Hoa Thám. Sau khi hội đàm, hai nhà yêu nước thống nhất: Hoàng Hoa Thám tham gia Duy Tân hội, dụng nạp nghĩa sĩ Trung Kỳ và ứng viện khi Trung Kỳ khởi nghĩa. Nếu Yên Thế tác chiến, Trung Kỳ ứng viện và giúp đỡ về quân số và vũ khí khi cần thiết. Kết quả bước đầu đồn Tú Nghệ được xây dựng ở Yên Thế và đón một số nghĩa sĩ Trung Kỳ, trong đó có Tùng Nham, Hoàng Hành đen để hợp tác với nghĩa quân Hoàng Hoa Thám chống Pháp. Tiếc rằng sau này, 500 khẩu súng do Phan Bội Châu mua ở Nhật chuyển về chưa tới nơi thì nghĩa quân Hoàng Hoa Thám bị địch đàn áp phái lánh sang Phúc Yên, Vĩnh Yên Phan Bội Châu tặng lại Đảng cách mạng Trung Hoa. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự« Trả lời #3 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2016, 04:11:51 pm » | Năm 1907 26 tháng 1
Nghĩa quân người Ba Na ở Plây Ku kiên cường đánh chặn cuộc tiến công của quân Pháp vào căn cứ Kôn Klot. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, bằng tên nỏ, nghĩa quân đã đánh lui được nhiều đợt tiến công của địch, diệt và làm bị thương một số tên, trong dó có chủ đồn điền Pa-ri.
Tháng 4
Hàng nghìn nghĩa quân Hơ Rê nổi dậy ở gần đồn Đức Phổ (Quảng Ngãi). Địch huy động binh lính đến đàn áp, nghĩa quân đánh trả quyết liệt, diệt một tên đội và làm bị thương một số tên khác. Sau trận này, địch phải tăng cường lực lượng bảo vệ đồn Đức Phổ.
Tháng 8
Nhân dân vùng miền núi tỉnh Phú Yên dưới sự lãnh đạo của Ma Lai nổi dậy chống Pháp. Nghĩa quân thường tiến công các đồn trại của quân địch gây cho chúng một số thiệt hại. Thực dân Pháp huy động binh lính đàn áp. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt ở các buôn Hwing, Plây Bông, nghĩa quân dùng tên tẩm thuốc độc tiêu diệt được 1 lính, 1 cai. Địch tập trung quân càn quét một số buôn làng, nghĩa quân gặp khó khăn và tan rã.
Tháng 12
Đồng bào Ba Na vùng miền núi tỉnh Bình Định dùng chông cắm ở những vị trí xung yêu quanh làng. Một đội quân địch gần 60 tên do Ghê-nô (Guenot), đại diện công sứ Bình Định chỉ huy cùng hai đội khố xanh Pơ-lê-ga (Plégat) và Vác-nây (Varney) tiến vào làng đã bị nghĩa quân chặn đánh, buộc phải rút quân.
Năm 1908 Tháng 2
Bùng nổ phong trào chống sưu thuế của nông dân Trung Kỳ. Phong trào bắt đầu ở Đại Lộc (Quảng Nam) với hơn 200 nông dân tham gia kéo đến huyện ly xin định lại số ngày đi "xâu". Yêu sách không được giải quyết, đoàn biểu tình kéo lên tỉnh, Công sứ Sác-lơ (Charles) cho quân đàn áp, bắt 6 đại biếu của đoàn biểu tình. Từ các địa phương, hàng nghìn người kéo đến vây quanh toà sứ đấu tranh đòi giảm ngày đi phu, giảm sưu thuế. Đoàn người biểu tình toả đi các nơi bao vây dinh tống đốc, các phủ lỵ, huyện lỵ và trừng trị bọn cường hào gian ác. Từ Quảng Nam, phong trào lan nhanh sang các tinh Quảng Ngải, Bình Định. Phú Yên, Thừa Thiên, Hà Tĩnh. Thực chất đây là cuộc bạo động của nông dân kết hợp giữa đấu tranh chính trị và bạo động vũ trang diễn ra ngay càng quyết liệt., vượt ra ngoài ý muốn của các phu yêu nước có xu hướng dân chủ tư sản khi khởi xướng. Thực dân Pháp phải huy động cả quân đội Bắc Kỳ vào đàn áp Tháng 5 năm 1908, phong trào "xin xâu, chống thuế" ờ Trung Kỳ bị dập tắt.
17 tháng 4
Những người biểu tình ở Quảng Ngãi bao vây tên Thất Tân (một lính tập được phong hàm thất phẩm); đồng thời bắt 4 lính khố xanh, 2 lính dõng và 1 lý trưởng bảo vệ gia đình tuần vũ Nguyễn Thân (đại thần triều đình Huế, tay sai đắc lực của Pháp), giết tên Đinh Văn Kỷ - con nuôi công sứ Đô-đê.
27 tháng 6
Vụ Hà thành đầu độc. Đây là vụ đầu độc sĩ quan, binh lính Pháp, do binh lính người Việt trong quân đội Pháp thực hiện theo chủ trương của các sĩ phu yêu nước, phối hợp với nghĩa quân Yên Thế nhằm đánh chiếm thành Hà Nội. Sau hai lần hoãn (15-11-1907, 16-5-1908). 20 giờ ngày 27 tháng 6, anh em bồi bếp và binh lính người Việt thuộc trung đội Công nhân pháo thủ Hà Nội (Compagnie cTOuvriers d’ Artillerie) tổ chức đầu độc binh lính Pháp đóng trong thành bàng cà độc dược. Toàn bộ binh lính Pháp (khoảng 250 tên) thuộc trung đoàn pháo binh 4 và trung đoàn bộ binh 9 thuộc địa đóng trong thành Hà Nội đã bị ngộ độc. Anh em chưa kịp bắn súng báo hiệu cho các cánh quân bên ngoài (khoảng 600 nghĩa quân) biết, thì đã bị thực dân Pháp tước hết vũ khi và bát giam. Do tổ chức thiếu chặt chẽ, ý định bị lộ, trước đó viên cố đạo tại nhà thờ Hà Nội đã mật báo cho bọn Pháp biết vụ bạo động có thể xảy ra đêm 27 tháng 6 nám 1908. Do vậy thực dân Pháp đã đề phòng và khi được tin binh lính bị ngộ độc, chúng đã cấp cứu dễ dàng bởi thuốc độc thuộc loại nhẹ, ít tác dụng và lập tức bắt giam toàn bộ binh lính người Việt trong thành.
Cuộc mưu chiếm thành Hà Nội không thành, nhưng đã gây chấn động làm xôn xao dư luận lúc ấy. Bọn sĩ quan, binh lính Pháp hoang mang. Đây là cuộc vùng dậy đầu tiên của binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp, đánh dấu sự thất bại trong chính sách "dùng người Việt trị người Việt" của thực dân Pháp.
28 tháng 8
Tổng thống Pháp ra sác lệnh bắt thanh niên Nam Kỳ gia nhập lực lượng quân đội chính quy. Các địa phương tổ chức bắt lính theo hình thức rút thăm (khác với Trung Kỳ và Bác Kỳ tiến hành bắt lính bằng hình thức cưỡng bức, chỉ định của chính quyền từ cấp xã). |
|
|