Bài viết

VIẾT VỀ PHẠM PHÚ THỨ

Đà Nẵng29/12/2025Trường THPT Phan Châu Trinh (Trường THPT Phan Châu Trinh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những con người mà khi nhắc đến, ta không chỉ nhớ công trạng, mà còn nhớ đến cả một thời đại – khoảng thời gian đầy biến động, mất mát nhưng cũng đầy những nỗ lực rực cháy của những con người không chịu cúi mình trước bóng tối. Trong dòng chảy ấy, bóng hình của Phạm Phú Thứ đã hiện lên như ngọn đèn lập lòe giữa phong ba, một ánh sáng lặng lẽ nhưng bền bỉ, soi rọi những bước chuyển đầu tiên của dân tộc trên con đường mở cửa tri thức. Sơ lược một chút về tiểu sử của ông, Phạm Phú Thứ còn có tên gọi khác là Phạm Hào, tự Giáo Chi, hiệu Trúc Đường, biệt hiệu Giá Viên, người ở làng Đông Bàn, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Phạm Phú Thứ được xếp vào hàng ngũ những người có quan điểm canh tân đất nước vào những năm nửa cuối thế kỷ XIX. Bên cạnh đó, ông còn được đánh giá là nhà thơ tài năng của dân tộc. Trong các bộ sách thuộc khối Mộc bản Triều Nguyễn có nhiều tư liệu ghi danh và tôn vinh công trạng của Phạm Phú Thứ – một người con ưu tú của xứ Quảng.

Trên mảnh đất xứ Quảng đầy nắng gió, làng Đông Bàn đầu thế kỷ XIX không có gì đặc biệt ngoài những nếp nhà tranh, những con đường đất và tiếng đọc sách của những gia đình nho học. Trong khung cảnh ấy, cậu bé Phạm Phú Thứ lớn lên với ước mơ rất giản dị: học để làm người, học để giúp đời. Sự thông minh, ham đọc, ham tìm hiểu khiến cậu nổi bật từ thuở nhỏ. Chính nhờ tinh thần ham học hỏi ấy, mà chỉ trong hai năm 1842 – 1843, Phạm Phú Thứ đã đổ cả ba kì thi do vua Thiệu Trị tổ chức đó là thi Hương, Hội và thi Đình, trong đó kỳ thi Hội ông đứng đầu bảng. Sau đó, Phạm Phú Thứ bước vào triều đình không phải với niềm hãnh diện của một người được trọng dụng, mà với nỗi trăn trở: “Làm gì cho dân? Làm gì cho nước?” Đó cũng là điểm bắt đầu của cuộc đời đầy thử thách nhưng chan chứa lý tưởng của ông.

Năm 1850, ông thấy ở triều đình vua trẻ ham mê vui chơi, lơ là việc triều chính trong lúc đất nước đang đứng trước nguy cơ xâm lược của giặc ngoài, đã dũng cảm dâng sớ can gián nhà vua với lời lẽ thẳng thắn và thiết tha: “…Lễ đại định ít thấy ra triều thị, nhạc nội uyển kèn trống suốt cả đêm, nhà Kinh diên lâu không tới giảng, chốn triều đình lâu không han hỏi, thần tử ở bốn phương, phủ huyện cũng lâu không được thừa chỉ, thanh vấn. Lại nói: thái y phương thuốc điều hòa, thực cũng quá ư nghệ thuật, quần thần dâng sớ thỉnh an, vị tình khuất cả lời nói”. Sơ tấu lên, Phạm Phú Thứ phải trả một giá khá đắt vì tội “phạm thượng”. “Vua cho lời nói khí quá khích… đình nghị cho là hủy báng định bắt tội đồ, nhưng giảng quan và ngôn quan xin khoan tha cho”. Cuối cùng, ông bị cách chức, đày đi khổ sai một năm ở trạm bưu chính Thừa Nông, phía tây nam thành Huế. Bạn hữu thân thích trong triều nhiều người lo cho số phận của ông, nhưng ông vẫn tự tin về việc mình làm là đúng và cần thiết, lúc rỗi việc thì đi câu cá, ngắm cảnh, làm thơ. Tập thơ Nông giang thi lục được sáng tác vào thời gian này.

Năm 1863, khi đất nước đứng trước nguy cơ xâm lược, triều đình cử phái bộ sang Pháp – Tây Ban Nha. Đối với người đời lúc ấy, đi sứ là chuyện bang giao. Nhưng với Phạm Phú Thứ, chuyến đi ấy như một cánh cửa mở tung ra thế giới rộng lớn. Khi đặt chân lên mảnh đất châu Âu: Ông nhìn thấy những con tàu sắt mạnh mẽ như những con rồng thép, thấy nhà máy vận hành ầm vang bằng hơi nước, thấy trường học mở cửa cho mọi tầng lớp, thấy khoa học dẫn lối cho xã hội tiến bộ. Càng nhìn, ông càng hiểu một điều đau lòng nhưng thật đến nhói tim: Nếu Việt Nam không thay đổi, dân tộc sẽ bị bỏ lại phía sau. Bước trên những con đường đá phương Tây, trong lòng ông vang lên câu hỏi đầy day dứt: “Phải làm gì để mang ánh sáng này về cho dân mình?” Trở về nước, Phạm Phú Thứ không im lặng. Ông dâng lên triều đình những đề nghị táo bạo: cải cách giáo dục, chấn chỉnh quân đội, phát triển giao thương, gửi người ra nước ngoài học tập. Ông không nói để được khen, không đề xuất để ghi công. Ông nói vì ông thấy rõ: nếu không thay đổi, dân tộc sẽ tổn thương thêm nữa. Đáng tiếc thay, ở hoàn cảnh ấy, có mấy ai cùng tư tưởng với ông. Phạm Phú Thứ đã làm được điều mà nhiều quan lại không làm được, đó chính là dũng cảm nói lên qua điểm của mình. Ông không im lặng, cũng chẳng hô hào lớn tiếng, mà chỉ lặng lẽ gieo những hạt giống đầu tiên – những hạt giống của tri thức, của khát vọng đổi mới – để rồi chúng nảy mầm trong lòng dân tộc nhiều thập kỷ sau.

Trong cách nhìn của người dân, Phạm Phú Thứ không chỉ là đại thần, mà là người cha hiền của vùng đất ông cai quản. Ông đi đến đâu cũng lo cho dân đủ no, đủ mặc. Thấy thiên tai đói kém, ông lặng lẽ bỏ tiền riêng cứu trợ mà không để lộ danh tính. Thấy nạn tham ô, ông thẳng tay loại bỏ, dù biết điều đó khiến ông mất lòng không ít người. Có giai thoại kể rằng, khi đi kiểm tra đê điều trong mưa lớn, ông lội bùn đến tận nơi dân đang trú tạm để hỏi từng nhà xem họ còn thiếu gì. Những người lính hộ tống phải che dù cho ông, nhưng ông gạt đi và bảo: “Dân ướt, sao ta lại khô?” Đó là tấm lòng của một vị quan không chỉ làm đúng trách nhiệm, mà còn sống cùng nỗi lo của dân. Nếu hỏi: Vì sao Phạm Phú Thứ vẫn được nhắc đến sau hơn một thế kỷ? Câu trả lời không nằm ở chức Thượng thư hay danh vị khoa bảng, mà nằm ở những giá trị tinh thần ông để lại cho mỗi thế hệ người Việt. Đầu tiên, Học để mở mang trí tuệ – không học để lấy danh. Ông cho thế hệ trẻ thấy rằng học là để hiểu biết thêm, để nhìn xa hơn, để không bị tụt lại trong thế giới rộng lớn. Dám thay đổi – ngay cả khi điều đó không dễ dàng. Trong thời đại mà đổi mới có thể bị xem là phản nghịch, ông vẫn kiên định với niềm tin của mình. Ngày nay, người trẻ cũng cần dũng khí ấy – dám ước mơ, dám khác biệt, dám tiến lên theo đuổi mục tiêu sống của mình. Biết sống vì cộng đồng, chứ không chỉ cho riêng mình: Một đất nước phát triển không thể thiếu những con người đặt lợi ích chung lên trước, “Một người vì mọi người”. Tâm hồn của ông là lời nhắn gửi rằng: hiền tài là nguyên khí quốc gia, không chỉ ở trí tuệ, mà còn ở niềm tin, khát vọng, cống hiến.

Mỗi khi nghĩ về Phạm Phú Thứ, có thể cái tên này vẫn còn xa lạ với nhiều người, thế nhưng khi đã biết đến ông thì không thể phủ nhận những công ơn lớn lao mà vị danh nhân xứ Quảng tài hoa này đã đem đến cho nước ta lúc bấy giờ, như một ánh lửa le lói giữa đêm tối vô định. Ngọn lửa ấy được thắp lên bằng tri thức, bằng lòng yêu nước, bằng khát vọng đưa dân tộc bước ra ánh sáng văn minh. Cho đến ngày nay, khi chúng ta ngồi trong lớp học sáng đèn, cầm trên tay những cuốn sách hiện đại, được tiếp cận tri thức của cả thế giới, ta càng hiểu hơn giá trị của những con người đã đi trước: họ đã nhìn thấy điều ta đang có ngay từ khi đất nước còn chìm trong áp bức bóc lột mà chiến tranh đem lại. Phạm Phú Thứ là một phần của lịch sử, nhưng là phần lịch sử vẫn đang sống – sống trong niềm tin, trong ý chí, và trong khát vọng học hỏi của mỗi học sinh Việt Nam. Bởi lẽ, dù thời hoa lửa đã qua, nhưng tinh thần của những con người như ông vẫn cháy mãi – để nhắc chúng ta rằng: Một dân tộc chỉ thật sự mạnh mẽ khi biết nuôi dưỡng ánh sáng tri thức và lòng yêu nước trong trái tim thế hệ trẻ.

Và tất nhiên, với niềm tự hào và lòng yêu nước sẵn có trong trái tim mỗi con dân đất Việt nói chung và xứ Quảng nói riêng, ngày naychúng ta có nhiều hình thức tri ân hết sức ý nghĩa. Trước hết, mộ phần của ông ở làng Đông Bàn đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia, trở thành nơi tôn vinh trang trọng và là điểm đến giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.

Song song với đó, Nhà lưu niệm Phạm Phú Thứ được xây dựng ngay tại quê hương, trưng bày tư liệu, hình ảnh và các tác phẩm thơ văn, giúp người xem hiểu sâu hơn về tư tưởng canh tân và cuộc đời bậc trí sĩ. Không chỉ vậy, khu di tích được tu bổ, tôn tạo thường xuyên, thể hiện sự trân trọng của cộng đồng và chính quyền với nhân cách lớn của dân tộc. Di sản tinh thần của ông cũng được gìn giữ qua “Phạm Phú Thứ toàn tập”, một đóng góp văn hóa quý giá cho xứ Quảng và cả nước.

Ngoài ra, tên ông được đặt cho nhiều trường học và đường phố, như một cách nhắc nhở thế hệ trẻ noi gương khí phách, trí tuệ và lòng yêu nước của ông. Cuối cùng, các hoạt động tham quan – giáo dục lịch sử tại lăng mộ và nhà lưu niệm thường xuyên được tổ chức, giúp câu chuyện về một nhà cải cách tiên phong tiếp tục được truyền lại, trở thành nguồn cảm hứng cho những ai luôn khao khát đổi mới và phụng sự đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn