Vĩnh Linh - Tân Kỳ: Nghĩa tình "quê chung" còn mãi với thời gian
Trong dòng chảy lịch sử của dân tộc, có những câu chuyện không chỉ được viết bằng những chiến công trên chiến trường mà còn được khắc ghi bằng tình người giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Mối nghĩa tình giữa Vĩnh Linh (Quảng Trị) và Tân Kỳ (Nghệ An) là một câu chuyện như thế – câu chuyện về sự sẻ chia, đùm bọc và tình đồng bào son sắt đã vượt qua bom đạn, trở thành biểu tượng đẹp của truyền thống đoàn kết dân tộc.

Những năm 1965-1968, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, khu vực Vĩnh Linh và Quảng Bình trở thành "tọa độ lửa", hứng chịu mật độ bom đạn khốc liệt bậc nhất cả nước. Với vị trí là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam, Vĩnh Linh bị tàn phá nặng nề, cuộc sống của nhân dân gần như hoàn toàn chuyển xuống hầm hào, địa đạo.
Trước tình hình đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo thực hiện các kế hoạch K8 và K10 nhằm sơ tán người già, phụ nữ và trẻ em ra các tỉnh phía Bắc để bảo toàn lực lượng, gìn giữ nòi giống, giúp những người ở lại yên tâm chiến đấu bảo vệ quê hương. Hơn cả một cuộc sơ tán thông thường, đây là cuộc thiên di đặc biệt trong lịch sử dân tộc, đưa hàng vạn đồng bào từ vùng bom đạn đến những miền quê bình yên hơn.
Trong hành trình ấy, huyện Tân Kỳ (Nghệ An) đã trở thành điểm đến của gần 3 vạn đồng bào Vĩnh Linh. Có thời điểm, 13 trong số 16 xã của huyện Tân Kỳ đón bà con K10 về sinh sống. Một vùng quê còn nhiều khó khăn nhưng đã mở rộng vòng tay, coi những người từ tuyến lửa như người thân trong gia đình.
Những ký ức ấy đến nay vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí các nhân chứng lịch sử. Ông Nguyễn Kế Toản, nguyên phụ trách Phòng 10 và dân K10 của Huyện ủy Tân Kỳ, cùng bà Nguyễn Thị Liệu, nguyên Chủ tịch UBND xã Nghĩa Đồng, vẫn nhớ như in đêm bà con Vĩnh Linh đặt chân đến quê mới.
Đó là những ngày cuối năm, sát Tết Kỷ Dậu 1969. Xe chở đồng bào về đến Nghĩa Đồng lúc đêm khuya. Người dân địa phương đã tập trung từ sớm tại hội quán hợp tác xã để chờ đón. Hơn 850 đồng bào xã Vĩnh Trung, chủ yếu là phụ nữ, người già và trẻ nhỏ, được các gia đình Nghĩa Đồng đón về ở chung trong những căn nhà tranh tre, vách đất vốn đã chật hẹp.
Không có nhà rộng, không đủ chăn màn, cũng chẳng dư dả lương thực, nhưng người dân Tân Kỳ đã dành cho đồng bào Vĩnh Linh sự đón tiếp chân thành như đón người thân đi xa trở về. Hai gia đình cùng ăn chung mâm cơm, cùng sinh hoạt dưới một mái nhà, thậm chí cùng thờ chung tổ tiên trên một bàn thờ.
Đến nay, người dân Nghĩa Đồng vẫn truyền nhau câu chuyện về hai gia đình chỉ có một chiếc chiếu cói để ngủ. Không ai nhận phần hơn cho mình, cứ nhường qua nhường lại, cuối cùng chiếc chiếu được kê làm gối đầu để tất cả cùng nằm trên nền đất. Một câu chuyện giản dị nhưng đủ nói lên nghĩa đồng bào trong những tháng năm gian khó.
Sau Tết, chính quyền và nhân dân Tân Kỳ tiếp tục cùng bà con dựng nhà, lo tranh tre, nứa lá, khai hoang đất sản xuất. Chỉ sau khoảng hai tháng, các khu dân cư mới đã hình thành, đồng bào Vĩnh Linh dần ổn định cuộc sống, vừa lao động sản xuất, vừa tham gia phục vụ chiến đấu.
Những năm tháng sống chung đã tạo nên sự gắn bó sâu nặng giữa nhân dân hai địa phương. Người Tân Kỳ và người Vĩnh Linh cùng lao động, cùng chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, cùng vượt qua thiếu thốn, gian khó. Không chỉ trao nhau tình cảm, họ còn trao cho nhau cả những kinh nghiệm canh tác quý báu.
Chính từ những ngày ấy, người Tân Kỳ biết đến kỹ thuật trồng cây lưu niên, cây huỳnh tinh (dong), biết làm bột sắn lọc, bánh bột lọc nhân đậu, nhân tôm... Đặc biệt, những gốc tiêu theo bước chân người Vĩnh Linh vượt qua mưa bom bão đạn đã bén rễ trên đất Tân Kỳ. Trải qua nhiều thế hệ, những vườn tiêu ấy vẫn được người dân gìn giữ và gọi bằng cái tên đầy trìu mến: "tiêu Vĩnh Linh".
Hơn nửa thế kỷ đã đi qua, nhiều người trong cuộc nay đã không còn, nhưng tình nghĩa giữa hai vùng quê vẫn luôn được các thế hệ tiếp nối. Những cuộc gặp mặt truyền thống, những chuyến thăm hỏi giữa cán bộ và nhân dân hai địa phương được duy trì đều đặn như sự trở về của những người thân trong một gia đình lớn.
Bởi vậy, đối với nhiều người dân hai huyện, Tân Kỳ không chỉ là nơi từng cưu mang đồng bào trong chiến tranh, còn Vĩnh Linh không chỉ là quê hương nơi chôn nhau cắt rốn. Hai vùng đất đã trở thành "quê chung" – một khái niệm dung dị nhưng chứa đựng biết bao yêu thương, nghĩa tình và sự gắn bó không thể tách rời.
Lịch sử rồi sẽ lùi xa, nhưng những câu chuyện về một thời "nhường cơm sẻ áo", "chia ngọt sẻ bùi", cùng nhau vượt qua bom đạn sẽ mãi là những di sản tinh thần vô giá. Đó không chỉ là ký ức của riêng Vĩnh Linh hay Tân Kỳ mà còn là minh chứng sinh động cho truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam.
Hôm nay, trong hòa bình và phát triển, mỗi lần nhắc đến tình nghĩa Vĩnh Linh - Tân Kỳ là nhắc đến một biểu tượng đẹp của lòng nhân ái, của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Đó cũng là lời nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau luôn biết trân trọng quá khứ, gìn giữ những giá trị tốt đẹp mà cha ông đã vun đắp bằng biết bao hy sinh, gian khổ để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh.



