Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Võ Nguyên Giáp: Người đưa nghệ thuật chiến tranh nhân dân lên đỉnh cao nhân loại.

Từ một thầy giáo dạy lịch sử trở thành Đại tướng, Tổng tư lệnh, ông được lịch sử và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn vì “Văn lo vận nước văn thành võ/Võ thấu lòng dân võ hóa văn”. Ông là đại tướng đầu tiên của quân đội ta, cũng là đại tướng thắng nhiều đại tướng nhất. Nhưng ông cũng là vị tướng luôn tiếc thương từng giọt máu của người chiến sĩ. Tên tuổi và sự nghiệp của ông đã không chỉ được khắc ghi trong lịch sử dân tộc mà còn lừng danh thế giới và luôn ngời sáng mãi trong lòng dân…

Quảng Ninh26/02/2026Đoàn xã Ba Chẽ (Đoàn xã Ba Chẽ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Võ Nguyên Giáp (1911-2013) xuất thân trong một gia đình có bảy người con tại làng An Xá,xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Cụ thân sinh của ông vốn là một nhà nho nghèo, không có ruộng tư, được chia 2,5 mẫu ruộng công điền. Khi gieo trồng phải đi vay vốn, vay bằng tiền, nhưng ghi nợ bằng thóc, khi trả tính cả vốn lẫn lãi. Nhiều vụ hè, Võ Giáp theo mẹ chèo thuyền đi trả nợ. Mẹ đội thóc từ thuyền lên, chủ nợ cầm cái quạt tàu to tướng, quạt mạnh cho bay hết hạt lép, chỉ lấy hạt chắc. Những ký ức tuổi thơ như thế đã trở thành những dẫn chứng sinh động để 10 năm sau (1937) Võ Giáp cùng với đồng chí Trường Chinh viết cuốn “Vấn đề dân cày” và đi đến kết luận: "Sống dưới chế độ bóc lột phong kiến-tư bản, dân cày Đông Dương đã quá xơ xác, điêu linh".

Năm 14 tuổi, Võ Giáp vào Trường Quốc học Huế, ông bị lôi cuốn mạnh mẽ bởi phong trào đấu tranh của nông dân, trí thức, học sinh Trung Kỳ chống sưu cao thuế nặng, đòi trả tự do cho cụ Phan Bội Châu. Cụ Phan trở thành thần tượng đầu đời của anh học trò thông minh, giàu lòng yêu nước Võ Giáp. Trong bộ phim tài liệu: “Giọt nước giữa đại dương”, Đại tướng kể lại rằng: Cứ thứ 5 hằng tuần, chúng tôi đến thăm “Ông già Bến Ngự”, nghe cụ Phan hô hào thanh niên phải yêu nước, phải đứng lên. Những câu thơ “Dậy! Dậy! Dậy! Bên án một tiếng gà vừa gáy”, “Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”… khiến thanh niên chúng tôi bừng bừng lên như lửa. Nhóm học sinh tiến bộ của Võ Nguyên Giáp rủ nhau lên thượng nguồn sông Kiến Giang, tuyên thệ lập hội kín với mục đích đánh Tây.

Năm 1927, Võ Giáp viết bài báo "Đả đảo tên tiểu bạo chúa trường Quốc học", tố cáo nền giáo dục ngu dân và quy chế cấm đọc sách báo yêu nước. Sau bị đuổi học vì tổ chức bãi khóa, ông về quê rồi vào làm tại nhà xuất bản Quan hải tùng thư, tòa soạn báo Tiếng dân. Tại đây Võ Giáp có điều kiện tiếp xúc với những tri thức tiến bộ; ông đặc biệt ấn tượng với "Bản án chế độ thực dân Pháp", báo "Người cùng khổ" (Le Paria) và một số bài viết của Nguyễn Ái Quốc. Như sau này ông có lần tâm sự: "Bài luận văn của Nguyễn Ái Quốc đã gây cho chúng tôi một lòng căm phẫn sâu sắc như một luồng điện giật".

Năm 1928, khi mới 18 tuổi, Võ Nguyên Giáp tham gia đảng Tân Việt, phụ trách công tác tuyên huấn, ông đi khắp ba miền phổ biến đường lối khối liên hiệp quốc dân, vận động các kỳ bộ Tân Việt chuyển sang hàng ngũ cộng sản. Chính Võ Nguyên Giáp và nhóm hạt nhân cộng sản đầu tiên trong Tân Việt đã thúc đẩy quá trình cải tổ Tân Việt thành Đông Dương Cộng sản liên đoàn và hợp nhất vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1930 Võ Nguyên Giáp bị bắt giam, đến năm 1931 thoát khỏi nhà tù thực dân, ông ra Hà Nội dạy học, tham gia Mặt trận dân chủ Đông Dương, làm báo tuyên truyền xây dựng cơ sở cách mạng trong thanh niên, học sinh.

Năm 1940, Võ Nguyên Giáp cùng với đồng chí Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Từ đây, ông được Cụ Hồ giáo dục, rèn luyện, giao đảm trách nhiều công việc và ngay từ rất sớm đã được Người định hướng phải học thêm về quân sự. PGS, TS Thiếu tướng Vũ Quang Đạo, nguyên Viện Trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam kể: Trong một buổi gặp, sau khi trao đổi với cả hai người về tình hình cách mạng trong nước, Bác Hồ nói: “Chú Tô (bí danh của đồng chí Phạm Văn Đồng) thì học thêm về quản lý, còn “cô” Văn thì học thêm về quân sự”. Bác thường gọi “cô” Văn vì đồng chí Võ Nguyên Giáp khi đó dáng người rất thư sinh.


Giữa năm 1944, cuộc khủng bố của thực dân Pháp tại Cao-Bắc-Lạng lên đến cực điểm. Bác Hồ nhận định, thời kỳ cách mạng phát triển hòa bình đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa đến, Người quyết định thành lập một đội tuyên truyền vũ trang đầu tiên.

Võ Nguyên Giáp kể lại rằng, trong một cuộc họp, sau khi phân tích tình hình mọi mặt, Người quay sang hỏi: Việc này giao cho chú Văn phụ trách, chú có làm được không?

Anh Văn khi đó có chút bất ngờ, nhưng vẫn quả quyết: Dạ, có thể được.

Lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ngày 22-12-1944.

Bằng câu trả lời ngắn gọn đó, Võ Nguyên Giáp chính thức lãnh sứ mệnh cầm quân đánh giặc. Trong cuốn sách “Võ Nguyên Giáp-Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh”, tác giả Trần Trọng Trung viết, một đêm hạ tuần tháng 9-1944, nằm với Bác trên chiếc giường ghép bằng thân cây trong căn lều giá lạnh giữa rừng Pác Bó, Võ Nguyên Giáp được nghe Bác căn dặn những điều ngắn gọn, “vỡ lòng” nhưng cơ bản nhất về đường lối quân sự cách mạng Việt Nam. Đội Quân giải phóng phải có chị bộ làm hạt nhân lãnh đạo, phải dựa chắc vào dân…. Về phần người phụ trách cầm quân, Bác nói ngắn gọn mấy từ Dĩ công vi thượng. Lời dạy sâu sắc đó đã trở thành cẩm nang định hướng hành động cho cả một đời làm tướng của ông sau này.

Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân chính thức thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, Võ Nguyên Giáp đã dẫn dắt đội quân từ 34 chiến sĩ, với vũ khí trang bị thô sơ, từng bước lớn lên thành những trung đoàn, đại đoàn thiện chiến, kiên cường chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược.

Bốn năm sau, ngày 28-5-1948, Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng đầu tiên trong quân đội khi mới 37 tuổi. Buổi lễ hôm đó, Bác Hồ tay cầm Sắc lệnh, bằng giọng trang nghiêm và xúc động, Người nói: “Hôm nay thay mặt Chính phủ và nhân dân…” Bác bỗng ngừng lời, rút khăn tay lau nước mắt. Rồi Bác nói tiếp: “…Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho…”.

Tháng 5-1948, tại Lục Rã, chân đèo Re (phía Tuyên Quang), Hội đồng Chính phủ dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao quân hàm Đại tướng cho Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp.

Khi trả lời một phóng viên phương Tây về tiêu chuẩn phong quân hàm này, Bác nói: Đánh thắng Đại tá phong Đại tá; đánh thắng Thiếu tướng phong Thiếu tướng; thắng Trung tướng phong Trung tướng; thắng Đại tướng phong Đại tướng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn