VÕ QUỐC DĨNH- NGƯỜI CON ƯU TÚ ĐẤT QUẾ HIỆP
Võ Quốc Dĩnh sinh năm 1951, trong gia đình mang đậm dấu ấn truyền thống cách mạng tại xã Sơn Trung, Quế Sơn, Quảng Nam (cũ). Cha ông là ông Võ Tấn – cán bộ kháng chiến kiên cường. Từ nhỏ, ông đã chứng kiến những mất mát và gian khó của gia đình khi cha bị kẻ thù truy bắt, hành hạ. Những hình ảnh đau thương đó không làm ông nao núng, mà càng nuôi dưỡng trong lòng ông niềm yêu nước và ý chí đấu tranh. Sơn Trung nằm trên đường huyết mạch, là vùng chiến sự nóng bỏng. Nơi đây trở thành căn cứ kháng chiến từ những năm 1965, nhưng cũng liên tục bị kẻ thù bao vây, càn quét. Võ Quốc Dĩnh lớn lên trong hoàn cảnh đó – bom đạn, tiếng súng không bao giờ ngừng. Năm 1967, mới 16 tuổi, ông đã theo anh trai tham gia công tác tại Nghi Thượng. Năm 1968, được điều lên làm văn thư; cuối năm 1968, làm việc tại An Ninh vũ trang xã; năm 1969, Bí thư xã đoàn; năm 1970, Trưởng An ninh xã; tháng 9 năm 1971, thay thế anh trai làm Bí thư Chi bộ Sơn Trung, kiêm Chính trị viên xã đội – khi ông mới chỉ 20 tuổi.
Năm 1971, địch tăng cường chiếm đóng Sơn Trung. Bọn lính Đại Hàn đổ quân ra càn quét, tàn sát nhân dân. Võ Quốc Dĩnh chủ trương đánh địch bằng "lính không cơm" – nghĩa là làm cho địch không có gì ăn, không thể tồn tại. Ông chỉ đạo nhân dân kiên quyết giấu lương thực, thực hiện chính sách phòng không, thông báo mật cho mọi người. Mọi kế hoạch càn quét của địch đều bị ông phát hiện, làm thất bại. Trong gần một tháng, bọn địch phải bỏ Sơn Trung lui về, tiêu hao sinh lực nặng nề, tiêu diệt được 78 tên địch.
Tháng 9/1971, địch chiếm đồn Gò Đồng Mặt. Võ Quốc Dĩnh cùng đồng đội phục kích tại hầm Ông Phước. Khi máy bay vận tải C-123 hạ cánh, ông ra lệnh tấn công đột kích, bắn cháy máy bay, tiêu diệt nhiều địch. Trận chiến diễn ra ác liệt, đồng đội hy sinh, nhưng ông bình tĩnh chỉ huy rút lực lượng an toàn. Sau trận, ông ôm anh em khóc – đó là những giọt nước mắt của tình đồng chí sâu nặng.
Giữ vững vùng giải phóng sau Hiệp định Pa-ri Sau Hiệp định Pa-ri (27/1/1973), địch liên tục vi phạm, cướp đất, chiếm đóng. Võ Quốc Dĩnh chia lực lượng thành bốn bộ phận: hai bộ phận giữ vùng giải phóng; một bộ phận vận động quần chúng, mua bán, tạo quan hệ với địch; một bộ phận sẵn sàng chiến đấu tự vệ. Ông khéo léo kết hợp đấu tranh quân sự với chính trị, ngoại giao, giữ vững vùng giải phóng, bảo vệ nhân dân.
Phong cách "nói đi đôi với làm" Ông luôn lấy dân làm gốc: "Không dân thì gạo muối đâu mà ăn. Không dân thì mọi cố gắng của chúng ta đều không thành." Ông gần gũi nhân dân, lắng nghe ý kiến, thuyết phục bằng lý lẽ chứ không ra lệnh. Quyết định của ông luôn xuất phát từ lợi ích của nhân dân. Ông Phạm Đình Ba – bạn chiến đấu của ông – từng nói: "Võ Quốc Dĩnh là chiến sĩ cách mạng dũng cảm, đầy bản lĩnh nhưng cũng rất nhạy cảm. Ít chữ nhưng anh có năng khiếu vận động, thuyết phục quần chúng. Mỗi lần đi lãnh hội, nghe chỉ thị cấp trên, ông nhớ như in và truyền đạt lại cho đồng chí, nhân dân một cách trọn vẹn. Nếu ông còn sống đến ngày hòa bình, chắc chắn sẽ là một cán bộ xuất sắc
Đêm ngày 6 tháng 6 năm 1974, khi đang đi vận động quần chúng tại khu vực Sơn Thượng, Võ Quốc Dĩnh bị địch phục kích và anh dũng hy sinh, tuổi đời vừa tròn 23 tuổi. Trước khi hy sinh, ông vẫn thường nhắc câu nói của một đồng chí Bí thư Tỉnh ủy: "Là chiến sĩ cách mạng thì không có gì cô đơn, vì lúc nào cũng 'mồ hôi' dân. Không dân thì gạo muối đâu mà ăn. Không dân thì mọi cố gắng đều không thành…" Ông hy sinh đúng khi đang đi tìm dân, để nối tiếp cơ sở, để giữ vững niềm tin cách mạng trong mỗi con người. Võ Quốc Dĩnh được truy tặng nhiều danh hiệu và khen thưởng: Dũng sĩ cấp I, Dũng sĩ cấp II, Huân chương Chiến công hạng III, Bằng Tổ Quốc Ghi Công. Ông được tôn vinh là người con ưu tú, niềm tự hào của đất Quế Hiệp.
Võ Quốc Dĩnh ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng ông đã sống trọn vẹn cho lý tưởng cách mạng. Ông để lại tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, sự gắn bó máu thịt với nhân dân và tinh thần hy sinh cao quý.
TÀI LIỆU THAM KHẢO/NGUỒN THÔNG TIN
1.Tên bài viết: “Võ Quốc Dĩnh - Người con ưu tú đất Quế Hiệp”; tác giả: Phạm Thông; tập san Quế Sơn đất và người kiên trung của Ban Thường vụ huyện ủy Quế Sơn xuất bản năm 2014.
Tên: Phạm Quang Khoa
Lớp: 7/3. Trường THCS Quế Sơn Trung


