Võ Thanh Tòng-cựu chiến binh
chuyện ngắn

Có những năm tháng không thể nào quên, khi tuổi trẻ hòa cùng vận mệnh của đất nước và nghĩa vụ quốc tế cao cả. Với những người con của vùng đất Kiên Giang nhập ngũ năm 1982, đơn vị ở Sóc Trăng, tiểu đoàn 330, sư đoàn 869, chú cùng đồng đội bắc đầu cuộc hành trình từ miền Tây sông nước sang chiến trường Campuchia không chỉ là một chuyến đi, mà là một cuộc tôi luyện trong lửa đạn.
gác lại những dự định riêng, chú lên đường nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện tại Tiểu đoàn 330, Sư đoàn 869, chú chính thức đặt chân sang đất bạn Campuchia – nơi mà cái nắng, cái gió và mìn lá của Khmer Đỏ đang chực chờ.
Đơn vị chú dừng chân tại Đại đội 3, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 9 (Sư đoàn 339). Đây là đơn vị nổi tiếng với sự gan lì, đóng quân tại địa bàn cực kỳ hiểm trở của Bua Sas.
Trong ký ức của người lính Sư đoàn 339, Bua Sas là cái tên gợi nhớ về những cánh rừng khộp khô khốc, những cơn sốt rét rừng và sự rình rập của kẻ thù. Tại đây, Đại đội 3 đã sống và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn đủ đường: thiếu nước uống, thiếu rau xanh, nhưng chưa bao giờ thiếu quyết tâm.
Năm 1983 là cao điểm của những cuộc truy quét. Chú cùng đồng đội đã. trực tiếp tham gia nhiều trận đánh vào sào huyệt của tàn quân Khmer Đỏ. Tổ chức phục kích, bẻ gãy các đợt tập kích của địch vào tuyến phòng thủ.Thu hồi nhiều vũ khí và quân trang quân dụng của địch, góp phần làm suy yếu hỏa lực của đối phương tại khu vực biên giới. Mỗi món vũ khí thu được là một lần giảm bớt mối nguy hại cho đồng đội và nhân dân nước bạn. Đó là kết quả của những đêm thức trắng luồn rừng, những lần đối mặt với họng súng địch trong gang tấc.
Dũng cảm trong việc thu giữ vũ khí địch và lối đánh áp sát đã đưa chú bước sang một bước ngoặt mới: Trở thành lính Đặc công của Trung đoàn 9. Chuyển sang đơn vị Đặc công, nhiệm vụ càng nặng nề và nguy hiểm gấp bội. Khi Trung đoàn 8 bị địch vây hãm, gặp khó khăn, đơn vị Đặc công của chú nhận lệnh cơ động đánh tiếp viện tại khu vực Bắc Tam Ngon.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Bắc Tam Ngon những năm 1983 - 1984 là một túi bom, túi đạn. Với lối đánh đặc trưng của lính Đặc công: bí mật, bất ngờ, đánh hiểm, đánh thắng, chú và các đồng đội đã trở thành nỗi khiếp sợ của địch ở những cánh rừng biên giới. Những trận đánh tiếp viện không chỉ đòi hỏi lòng can trường mà còn là sự hy sinh vô bờ bến để giải vây cho đồng đội, giữ vững từng điểm chốt.
Hành quân trong rừng sâu, nơi mỗi bước chân đều có thể là một ranh giới giữa sống và chết. Trong lúc tiến quân thần tốc để kịp thời cứu viện cho đồng đội.Một tiếng nổ xé lòng vang lên giữa đại ngàn, Chú đã đạp mìn – thứ vũ khí hiểm độc của Khmer Đỏ giấu dưới lá khô. Vết thương quá nặng ở chân đã buộc chú phải rời xa tay súng, rời xa những người đồng đội đang còn ở lại giữa tiếng pháo gầm vang.
Năm 1984, chú phục viện trở về quê hương Kiên Giang với một chân không còn nguyên vẹn. Nhưng vết thương ấy không phải là nỗi đau, mà là Huân chương cao quý nhất của một người lính tình nguyện. Đó là sự hy sinh cao cả vì tình đồng chí, đồng đội. Là niềm tự hào của một người lính Đặc công đã đi qua những điểm nóng nhất của chiến trường K: từ Bua Sas đến Bắc Tam Ngon.



