Võ Thị Lan
Võ Thị Lan
Bà là Võ Thị Lan (SN 1939), người con của huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Năm 1959, bà Võ Thị Lan (còn gọi là Tư Lan) khi đó vừa tròn 20 tuổi đã tham gia hoạt động cách mạng, với nhiệm vụ đưa thư liên lạc cho các đồng chí lãnh đạo ở xã, huyện. Và kể từ giây phút đó, bà bắt đầu hành trình với vô vàn khoảnh khắc gian nan, thử thách nhưng đầy vẻ vang và bi tráng. Sự nghiệp hoat động Cách Mạng của bà Những năm 1960 là giai đoạn vô cùng khó khăn, ác liệt của chiến tranh. Lúc đó, bà làm liên lạc, đưa thư từ cho lãnh đạo cách mạng địa phương. Để hoạt động, bà đội thúng bán bánh để len lỏi khắp nơi nắm tình hình, đưa thư liên lạc. Có lần bị giặc bắt, chúng đánh đập, tra tấn dã man nhưng với lòng căm thù giặc, một lòng với Cách mạng Dân tộc, bà không khai một lời nào, sau cùng chúng phải thán phục và thả ra. Với niềm tin vào lí tưởng Cách mạng, năm 1966, ba trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt. Đến năm 1968, bà được cấp trên phân công giữ chức vụ Trưởng ban An ninh xã Hòa Tú. Với một người phụ nữ, công việc mới này rất khó khăn nhưng bà đã vượt qua, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Trong thời gian này, nữ anh hùng đã chỉ huy đơn vị trị tội nhiều tên ác ôn, phản bội, chỉ điểm, từ đó gây dựng phong trào cách mạng ngày càng lớn mạnh. Vào năm 1972, bà Lan được cấp trên rút về huyện đội, giữ chức vụ Huyện đội phó, Tham mưu trưởng huyện đội Mỹ Xuyên. Đến năm 1980, bà giữ chức vụ Huyện đội trưởng Huyện đội Mỹ Xuyên và đến năm 1991 thì nghỉ hưu với quân hàm Thiếu tá. Câu chuyện Bán của hồi môn phục vụ kháng chiến Năm 1974, bà được cấp trên giao chỉ huy một tiểu đoàn từ Sóc Trăng sang Campuchia nhận vũ khí về chuẩn bị cho chiến dịch mùa xuân 1975. Lúc đó, biết cô con gái út chuẩn bị lên đường, mẹ của bà đưa cho 4 lượng vàng là của hồi môn mà cha mẹ đã dành dụm cho con gái sau khi lập gia đình. Nhận 4 lượng vàng từ tay mẹ, bà rưng rưng xúc động. Đơn vị của bà hành quân sang nước bạn phải đi bộ, lội giữa biển nước mênh mông. Thấu hiểu được cái vất vả, khó khăn của đồng đội, bà cũng chẳng tiếc chi số vàng hồi môn của ba mẹ, tức tốc liên lạc với cơ sở cách mạng, nhờ họ bán một số vàng và mua được 56 chiếc xuồng ba lá cho anh em trong đơn vị làm phương tiện hành quân và có phương tiện để chở vũ khí về. Bà còn dùng tiền bán vàng nhờ cơ sở mua thêm cho mỗi chiếc xuồng 1 giạ gạo (khoảng 20 kg), 1 bếp lò, muối, bột ngọt, xoong nồi và mua cho mỗi người một tấm vải dù làm khăn quàng cổ, chăn đắp khi trời trở lạnh cùng nilon che mưa. Sau khoảng 4 tháng hành quân, đơn vị của bà đã mang về được nhiều súng đạn chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1975. Nói về chuyến đi này, chính ản thân nữ anh hùng đã tâm sự đó là một kỷ niệm không bao giờ quên. Thời điểm đó cả đơn vị đi theo đường dây giao liên. Khi đến khu vực Đồng Tháp, do trời tối và giao liên không nhớ đường nên dẫn đơn vị đi lạc vào khu vực địch đóng chốt. Trước tình thế đó, bằng mưu trí, nhanh nhạy, cô Tư Lan quyết định giả làm người vợ đi thăm chồng bị lạc đường để tìm cách đưa anh em thoát khỏi nguy hiểm. Bà sẵn sàng tự dầm mình giữa biển nước, mặc cho đỉa bám đầy người, cuối cùng bà cũng tìm được một cán bộ địa phương nhờ giúp đỡ lực lượng của mình thoát khỏi vùng nguy hiểm. Ta càng hiểu được sự hy sinh của bà vàng lớn lao biết bao khi biết rằng đêm đó đơn vị không thoát ra được thì chắc chắn sẽ gặp tổn thất lớn vì hôm đó các đồng chí đã nắm được thông tin địch đã có kế hoạch đánh phá khu vực này vì chúng nghi là nơi bộ đội ta đóng quân. Từ đó cứu toàn đội thoát hỏi tình cảnh bị địch càn quét. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, niềm vui thống nhất đất nước chưa trọn thì cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Để chi viện cho chiến trường, một số địa phương của tỉnh Sóc Trăng thành lập tiểu đoàn liên huyện tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới. Lần này, bà Tư Lan lại tiếp tục xung phong cùng đơn vị ra chiến trường. Bà Tư Lan hồi tưởng: “Lúc đó tôi là cán bộ chỉ huy mà tình hình rất khó khăn bởi chiến trường lúc đó ác liệt quá, tư tưởng cán bộ cũng phức tạp bởi đứng trước lằn ranh của sự sống chết. Vì vậy, tôi lại xung phong chỉ huy đơn vị đi biên giới chiến đấu. Mình là phụ nữ xung phong đi thì chắc chắn nhiều anh em sẽ cùng đi. Hơn nữa, tôi chỉ có mẹ già thì đã có hai người chị chăm lo, còn các đồng chí khác đang trẻ, còn vợ con sẽ khó khăn hơn tôi. Chỉ đơn giản là như thế chứ không có gì hơn. Vậy là tôi và các đồng đội của mình lại hành quân ra biên giới”. Chung thủy lời hẹn ước với người đã khuất Về cuộc đời riêng của bà Võ Thị Lan, qua lời kể của nhiều người từng công tác với bà, được biết khi còn trẻ, bà đã hẹn ước với một người lính cùng quê hương. Họ hẹn nhau ngày toàn thắng mới xây dựng hạnh phúc gia đình. Nhưng chiến tranh đã cướp đi lời hẹn ước ấy. Người đồng chí, người yêu của bà đã ngã xuống trong một trận đánh ác liệt với kẻ thù. Nhận tin người yêu của mình hy sinh, bà Tư Lan đau xót, bàng hoàng không thể tin được bởi lời hẹn ước giữa hai người “chờ tới ngày giải phóng mình sẽ thành đôi” vẫn còn đó. Cũng từ nỗi đau này mà cho đến mãi về sau, bà Tư Lan đã khước từ lời cầu hôn của nhiều người, quyết tâm ở vậy để giữ trọn tấm lòng chung thủy vẹn toàn với người đã hy sinh. Với những thành tích đã lập được trong những năm tham gia kháng chiến, bà Võ Thị Lan đã được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Độc lập hạng Ba; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì, hạng Ba; 5 huy hiệu Chiến sĩ quyết thắng; 4 lần Chiến sĩ thi đua… như để ghi nhận sự hy sinh thầm lặng của bà.



