Võ Thị Sáu (1)
Má Võ Thị Sáu quê gốc ở Đức Huệ (Long An) - một trong những vùng căn cứ cách mạng của hai cuộc kháng chiến vừa qua.
Má Võ Thị Sáu quê gốc ở Đức Huệ (Long An) - một trong những vùng căn cứ cách mạng của hai cuộc kháng chiến vừa qua. Má dời lên Biên Hòa sống cùng con gái, con rể sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ở trong căn nhà nhỏ dưới chân cầu Rạch Cát, thỉnh thoảng lại rung lên bởi những con tàu chạy qua. Mẹ sinh hạ được 9 người con, gần như do một mình má nuôi dạy nên người. Người rời má tham gia cách mạng sớm nhất là anh Huỳnh Văn Ngài (thứ ba) 14 tuổi đã tham gia du kích chống Pháp, là xã đội trưởng những năm chống Mỹ. Ba người con của mẹ đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đó là các anh chị: anh Huỳnh Văn Nở (thứ hai) tham gia cách mạng năm 1961, là bộ đội địa phương tỉnh Long An, hy sinh năm 1970; chị Huỳnh Thị Hồng Hoa (thứ năm) tham gia cách mạng năm 1964, là bộ đội địa phương tỉnh Long An, hy sinh năm 1969; anh Huỳnh Bác Ái (thứ 6), tham gia cách mạng năm 1960, là bộ đội tỉnh Bà Rịa, hy sinh năm 1963. Hai người con gái của mẹ: chị Huỳnh Thị Hồng Châu là thương binh chống Mỹ hạng 4/4; chị Huỳnh Thị Ngọc Dung là bệnh binh, và chồng của hai chị (con rể của má) cũng đều là thương binh. Anh Lực, chồng chị Dung nguyên là thiếu tá Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đã về hưu. Bốn người em trai ruột của má đều là bộ đội chống Pháp, chống Mỹ. Hai người đã anh dũng hy sinh. Với má, sự tham gia cách mạng của các em, các con má là lẽ dĩ nhiên trong hoàn cảnh đất nước có ngoại xâm. Các con má lớn lên lần lượt lên đường, người tham gia du kích, người vào chiến khu đi bộ đội. Nhiều năm má sống một mình lụi cụi làm thuê, làm mướn nuôi thân và dành dụm, thỉnh thoảng lại tìm đường vào chiến khu tiếp tế cho các con. Trong ba người con đã hy sinh thì anh Nở và chị Hoa, trước ngày hy sinh thỉnh thoảng má còn được gặp. Anh Ái trước khi đi chỉ xin phép má lên thăm ba trên thành phố, rồi từ đó đi biệt, đóng quân ở mãi miệt Bà Rịa và ra đi mãi mãi. Anh vào bộ đội mới có 15 tuổi và hy sinh giữa tuổi 18 tràn đầy sức sống. Bản thân má cũng đã từng vào tù ra khám. Chồng má tham gia Thanh niên Tiền phong trước cách mạng tháng Tám. Do một người cùng hoạt động bị giặc bắt tra tấn, chịu không nổi đã khai ra, giặc bắt hai vợ chồng má lên bót Catina ở Sài Gòn, đánh đập tra khảo suốt một tháng trời, sau không có chứng cớ, chúng phải thả ra. Nhiều chục năm qua, kể từ ngày các con má hy sinh, vết thương lòng của má vẫn chưa nguôi, những ký ức về các con vẫn hằn rõ trong tâm trí má. Nếu hỏi về nỗi đau mất con của má, má thường nói: con mình đẻ ra nuôi nấng chăm sóc dạy dỗ nên người, mỗi đứa là một khúc ruột của mình, chúng nó chết đi, ai mà không buồn không đau. Ngay cả đến giờ, lắm đêm nằm nhớ đến con, thương con không ngủ được. Nhưng muốn nước nhà độc lập, hòa bình thì phải chịu hy sinh mất mát. Bao nhiêu người, bao nhiêu gia đình cũng phải chịu hy sinh như thế chứ đâu phải một mình mình. Hai mươi năm qua, má sống với con gái, con rể (chị Huỳnh Thị Hồng Châu, hiện đang công tác ở Công ty Vận tải đường bộ Đồng Nai). Ngày ngày má bó chổi chà lấy thêm tiền cùng với tiến trợ cấp, phụ với anh chị lo cuộc sống. Bây giờ, chế độ trợ cấp có khá hơn và năm 1995 má cùng với một số Bà mẹ Việt Nam anh hùng khác của thành phố Biên Hòa được Xí nghiệp Vật liệu Xây dựng thành phố Biên Hòa nhận đỡ đầu chăm sóc, phụng dưỡng. Sức khỏe của má năm nay cũng yếu đi nhiều, bệnh tật luôn không thể bó chổi chà được nữa. Anh bạn cùng đi với tôi hỏi: “Bây giờ má mong ước điều gì nhất?”. Má nói: “Tôi chỉ mong đủ ăn đủ mặc và đủ thuốc chữa bệnh hàng ngày. Vừa rồi, bệnh nặng tưởng đi luôn, may mà còn gượng lại được. Bây giờ tuổi già nhiều bệnh lắm.” Căn nhà má ở nguyên là nhà ở của lính gác cầu. Hàng ngày, trước cửa nhà nhiều dòng xe cộ và những đoàn tàu vẫn rầm rập băng qua. Sau lưng nhà, dòng sông Đồng Nai ngàn đời nay vẫn lặng lẽ chảy, lặng lẽ như cuộc đời của má với bao hy sinh cao cả, không đòi hỏi một chút gì cho riêng mình. Má và gia đình được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba năm 1985. Má Võ Thị Sáu được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994.



