Vừ A Dính - Người thiếu niên anh hùng của núi rừng Tây Bắc
Tác giả: Phạm Thị Hồng Nhung
1. Thân thế và cội nguồn cách mạng
Vừ A Dính sinh năm 1934 trong một gia đình nông dân nghèo người dân tộc Mông tại bản Pá Chả, xã Phềnh Hồ, huyện Tuần Giáo, tỉnh Lai Châu (nay thuộc tỉnh Điện Biên). Sinh ra và lớn lên dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, từ nhỏ Vừ A Dính đã phải chứng kiến cảnh đồng bào mình bị áp bức, bóc lột nặng nề, chịu cảnh đói nghèo, bệnh tật và sự kỳ thị sắc tộc sâu sắc.
Gia đình Vừ A Dính là một gia đình có truyền thống yêu nước cách mạng sâu sắc. Cha anh là ông Vừ Chư Pao - một người nông dân kiên trung, sớm giác ngộ cách mạng, đã tham gia làm cơ sở, che giấu, nuôi dưỡng cán bộ Việt Minh hoạt động vùng Tây Bắc. Anh trai của Vừ A Dính cũng là một chiến sĩ du kích kiên cường. Nhờ sự giáo dục và ảnh hưởng trực tiếp từ gia đình, từ khi còn là một đứa trẻ, Vừ A Dính đã sớm hình thành lòng yêu nước nồng nàn và ý chí căm thù giặc sâu sắc.
Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ánh sáng tự do chiếu rọi lên các bản làng vùng cao Tây Bắc. Cán bộ cách mạng đến tuyên truyền, vận động đồng bào Mông đoàn kết, xây dựng đời sống mới, đánh đuổi giặc ngoại xâm. Vừ A Dính lúc bấy giờ dù tuổi còn nhỏ nhưng đã tỏ ra rất sáng dạ, nhanh nhẹn, luôn quấn quýt bên các cô chú cán bộ Việt Minh để học chữ, học hát những bài ca cách mạng và làm quen với công việc liên lạc.
2. Con đường trở thành chiến sĩ giao liên nhạy bén, dũng cảm
Cuối năm 1946, kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ. Vùng Tây Bắc trở thành trọng điểm càn quét của quân đội Pháp nhằm bóp nghẹt phong trào kháng chiến từ trong trứng nước. Các cơ quan lãnh đạo của ta phải rút vào bí mật, lập các căn cứ địa kháng chiến trong rừng sâu hiểm trở.
Năm 1948, khi mới tròn 14 tuổi, Vừ A Dính chính thức gia nhập đội ngũ thiếu niên cứu quốc và được phân công làm giao liên cho Ban Chỉ huy Huyện ủy Tuần Giáo và lực lượng du kích địa phương. Công việc của một chiến sĩ giao liên thời kỳ này vô cùng nguy hiểm và gian khổ. Anh phải mang tài liệu, thư từ, chỉ thị mệnh lệnh quân sự băng qua những cánh rừng rậm rạp, vượt qua các đèo cao suối sâu, tránh né các đồn bốt giặc và những toán lạng lách tuần tra của lõng phỉ, tay sai Pháp.
Dù tuổi đời còn rất nhỏ, Vừ A Dính đã thể hiện sự mưu trí, dũng cảm tuyệt vời qua nhiều nhiệm vụ quan trọng:
Khả năng quan sát tinh tế: Anh thường xuyên cải trang thành những đứa trẻ đi chăn trâu, đi kiếm củi lang thang quanh các khu vực đồn bốt giặc để thăm dò tình hình, nắm bắt số lượng binh lính, vũ khí và quy luật tuần tra của địch.
Sự khôn khéo trong xử lý tình huống: Nhiều lần mang tài liệu mật bị giặc tra xét ngặt nghèo trên đường đi, Vừ A Dính đã bình tĩnh nuốt giấy tờ mật vào bụng hoặc cất giấu khéo léo trong ống tre đựng cơm, qua mắt thành công kẻ thù.
Ý chí kiên cường: Không quản ngại mưa nắng, những cung đường rừng trơn trượt mùa mưa lũ hay cái rét cắt da cắt thịt mùa đông Tây Bắc, Vừ A Dính luôn hoàn thành xuất sắc mọi thư từ, mệnh lệnh giao phó, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt giữa cấp ủy và các lực lượng vũ trang.
3. Trận chiến cuối cùng và tấm gương hy sinh oanh liệt
Vào trung tuần tháng 3 năm 1949, thực dân Pháp mở đợt càn quét quy mô lớn vào khu căn cứ kháng chiến của ta ở vùng Tuần Giáo nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và các lực lượng du kích địa phương. Địch huy động một lực lượng đông đảo gồm lính Âu - Phi và phỉ phản động bao vây khu vực đóng quân của cơ quan huyện ủy.
Nhận thấy tình thế nguy cấp, để bảo vệ an toàn cho các cán bộ lãnh đạo rút lui vào rừng sâu, Vừ A Dính cùng một số đồng chí đã nhận nhiệm vụ ở lại đánh lạc hướng địch, thu hút sự chú ý của chúng về phía mình.
Vừ A Dính đã khôn khéo luồn lách qua các sườn đồi, vừa đánh trống, vừa hô hoán để làm giả tiếng hiệu của lực lượng du kích lớn, khiến quân Pháp hoang mang tưởng rằng lực lượng ta rất đông đảo. Địch điên cuồng dồn quân hỏa lực truy đuổi. Sau nhiều giờ chiến đấu đơn độc, vừa chạy vừa đánh để kéo dài thời gian, cuối cùng do lực lượng quá chênh lệch và kiệt sức, Vừ A Dính đã bị quân Pháp bắt giữ tại bản Pá Chả - chính là quê hương anh.
Biết Vừ A Dính là giao liên quan trọng nắm giữ nhiều đường dây bí mật và vị trí ẩn náu của cán bộ ta, bọn chỉ huy quân Pháp cùng lũ tay sai phản động đã dùng mọi thủ đoạn tàn độc nhất để tra tấn, dụ dỗ cậu thiếu niên 15 tuổi:
Chúng đánh đập anh dã man đến ngất đi tỉnh lại nhiều lần.
Chúng treo anh lên cành cây, dùng roi sắt quất, dùng lửa thui đốt thân thể.
Chúng đưa ra những lời hứa hẹn về tiền tài, chức tước nếu anh chịu khai ra nơi giấu cán bộ và các tài liệu mật.
Tuy nhiên, trước đòn roi tàn khốc và những cám dỗ vật chất của kẻ thù, Vừ A Dính vẫn giữ vững một mực trung kiên, tuyệt đối không hé răng nửa lời. Căm phẫn trước sự kiên gan của cậu thiếu niên người Mông, bất chấp luật lệ quốc tế và nhân đạo, quân Pháp đã hèn hạ treo cổ anh lên một cây đào cạnh bản vào ngày 15 tháng 6 năm 1949. Anh hy sinh khi tuổi đời vừa tròn 15.
4. Sức sống bất tử và ý nghĩa lịch sử
Sự hy sinh oanh liệt của Vừ A Dính tại núi rừng Tây Bắc đã trở thành một tượng đài bất tử về lòng yêu nước, tinh thần quả cảm của thế hệ trẻ Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp. Hình ảnh cậu thiếu niên người Mông hiên ngang trước kẻ thù không chỉ làm chấn động lòng người dân vùng cao lúc bấy giờ mà còn là nguồn cổ vũ lớn lao cho đồng bào các dân tộc thiểu số vững tin theo Đảng, theo cách mạng.
Để ghi nhận công lao to lớn và sự hy sinh anh dũng ấy:
Danh hiệu cao quý: Ngày phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Vừ A Dính là một trong những biểu tượng sáng ngời của thế hệ thiếu niên anh hùng.
Tên tuổi sống mãi với thời gian: Tên của anh đã được đặt cho nhiều ngôi trường học, đường phố trên khắp cả nước.
Quỹ học bổng Vừ A Dính: Quỹ học bổng mang tên anh do nguyên Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa sáng lập từ nhiều thập kỷ qua đã trở thành điểm tựa học tập, nâng bước cho hàng vạn học sinh, sinh viên là con em đồng bào dân tộc thiểu số và vùng biển đảo khắp cả nước vươn lên trong cuộc sống.
Câu chuyện về Vừ A Dính mãi mãi là bài học lịch sử sống động về lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, nhắc nhở các thế hệ mai sau luôn ghi nhớ công ơn trời biển của các thế hệ cha anh đi trước, tự hào viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.


