Vũ Công Chiến (1)
Ngày 26 tháng 4 năm 1972, men theo những sườn dốc gập ghềnh, lách qua những hàng cây lúp xúp rậm rì, chúng tôi tiến sâu vào rừng như những cái bóng lặng lẽ. Và rồi, trước mắt chúng tôi mở ra một bản Lào đã bỏ hoang, sau này tôi mới biết tên là bản Xoan.
Gần hai chục nóc nhà sàn đứng đó, to đẹp mà trống rỗng, như những chứng nhân câm lặng của một cuộc tháo chạy vội vã. Cây trái vẫn xanh tốt, đặc biệt là mấy cây dâu da trĩu quả, vàng ươm giữa nền lá xanh. Gia súc còn lảng vảng đâu đó, như chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra.Chúng tôi chiếm lĩnh trận địa ngay rìa bản. Nếu địch vào, chúng sẽ phải lọt hẳn vào lòng bản mới chạm phải chúng tôi. Tôi được bố trí bên trái, anh Nghi bên phải, còn anh Trọng với B40 và anh Lạc mang M79 ở giữa, lùi về sau một chút. Tôi không biết kế hoạch tác chiến ra sao, chỉ biết một điều rất đơn giản, địch đến thì bắn. Và từ khoảnh khắc ấy, tôi hình thành một thói quen khẩu AK luôn có sẵn một viên đạn lên nòng, bất kể ở đâu.Trời dần sáng. Cảnh vật hiện ra rõ nét hơn nhưng tầm nhìn vẫn bị bó hẹp bởi cây cối um tùm. Mọi thứ yên tĩnh đến mức đáng sợ. Tôi bò ra trước vài chục mét thăm dò rồi quay lại hầm. Hầm được đào chắc chắn, vách lót bằng ván tháo từ nhà sàn. Ngay cạnh cửa hầm là một cây dâu da sai trĩu. Tôi tiện tay bẻ một chùm, ngồi nhai ngay trên miệng hầm, vừa ăn vừa liếc sang các vị trí khác. Anh Trọng, anh Lạc cũng vẫy tay, mỗi người ôm một chùm dâu da như cách giết thời gian và xua đi cảm giác căng thẳng.Khoảng chín giờ, không khí vẫn im lìm. Tôi vừa ăn thêm chùm dâu khác thì chợt nghe tiếng lao xao từ xa. Lập tức tụt xuống hầm, tôi căng mắt nhìn. Một lúc sau, bóng người lờ mờ hiện ra. Địch. Không thấy rõ mặt, nhưng đủ để biết chúng đông, vài chục tên, đang lục soát từng bước chậm rãi. Gần chục tên tiến thẳng về phía tôi.Tôi đã mở chốt an toàn, chĩa súng, nhưng lại chần chừ. Trong đầu vẫn nghĩ phải chờ lính cũ nổ súng trước. Một tên địch tiến sát đến mức tôi phải nín thở, co người xuống hầm. Tiếng bước chân của nó rõ mồn một như giẫm lên chính lồng ngực tôi.Ở phía khác, anh Nghi cũng rơi vào tình thế nguy hiểm. Trong lúc chúng tôi ăn dâu, anh leo lên nhà sàn tìm rượu. Khi phát hiện địch đã sát chân cầu thang, súng lại chưa lên đạn. Một cái kéo quy-lát lúc này có thể đổi bằng mạng sống.Đúng lúc căng như dây đàn, tiếng súng nổ giòn ở cánh trái, người nổ súng không ai khác chính là tôi. Khoảnh khắc ấy không còn suy nghĩ gì nữa. Khi tên địch cúi nhìn vào cửa hầm, bốn mắt chạm nhau trong tích tắc, tôi bóp cò. Loạt đạn AK quật nó ngã ngửa. Tôi bật lên, quạt tiếp vào đám địch đang hoảng loạn. Ngay sau đó, B40 của anh Trọng gầm lên “ùng… oàng”, xé toạc sự yên tĩnh của bản làng.Từ thế bị động, chúng tôi chuyển sang chủ động. Đạn địch rít lên trên đầu, tiếng AR15 lạch tạch khác hẳn tiếng AK dứt khoát. Xen vào đó là tiếng “cốc… oành” của M79. Cả bản làng rung chuyển. Tôi bắn đến hết băng, gần như quên hết mọi nguyên tắc, chỉ còn bản năng sinh tồn dẫn dắt.Địch nhanh chóng lùi ra ngoài, rồi gọi pháo. Những loạt đạn pháo dội xuống bản như mưa. Cây cối gãy đổ, nhà sàn sập xuống, khói bụi và mùi thuốc súng tràn ngập. Tôi co mình trong hầm, nghe đất trời rung lên từng nhịp.Khi pháo ngớt, tôi ngoi lên. Bản làng đã biến dạng. Cây dâu da bên hầm tôi gãy cành, quả rụng vung vãi. Không gian mờ đục, tan hoang. Một tổ chi viện lên kiểm tra, đếm được bốn xác địch. Nhưng phía ta, anh Lạc bị thương nặng bởi mảnh M79.Gần trưa, địch quay lại, vừa bắn vừa tiến. Chúng tôi chờ đến khi chúng lọt sâu vào giữa bản mới nổ súng. Lần này tôi bình tĩnh hơn, điểm xạ từng loạt ngắn. Trận đánh diễn ra chóng vánh, rồi chúng lại rút, lại pháo.Chiều xuống, mọi thứ im ắng. Khi bóng tối phủ kín, chúng tôi rút khỏi bản, trở về những hầm trú quân cũ. Trận đánh đầu tiên ấy qua đi, để lại trong tôi một điều rất rõ ràng, trước giờ nổ súng, ai cũng hồi hộp; nhưng khi tiếng súng đã vang lên, mọi thứ trở nên đơn giản đến lạ chỉ còn sống hoặc không sống.



