Bài viết

Vũ Hiển

Hưng Yên06/01/2026Vũ Thị Thu Hà 11A63 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh ra tại vùng quê bình dị Ân Thi – Hưng Yên, nơi những triền đê xanh mướt, những cánh đồng lúa trĩu bông và dòng sông quê hiền hòa gắn bó suốt tuổi thơ, bác Vũ Hiển – chàng trai sinh tháng 5 năm 1954 – lớn lên trong hoàn cảnh đất nước còn chìm trong khói. lửa chiến tranh. Dù thiếu thốn đủ bề, nhưng bác luôn nổi bật bởi tinh thần chịu thương chịu khó, ham học hỏi và giàu ý chí. Gia đình nghèo, cuộc sống gian nan nhưng chưa bao giờ khiến bác nản lòng; trái lại, nó rèn luyện nên một con người mạnh mẽ, sống có trách nhiệm và luôn hướng về Tổ quốc.

Nhờ thành tích học tập tốt, luôn gương mẫu trong mọi hoạt động của địa phương, bác được xét đặc cách nhập ngũ sớm – khi mới vừa bước sang tuổi 17. Đó là tháng 12 năm 1971 – khoảnh khắc bác chính thức khoác lên mình màu áo xanh bộ đội. Bác nói:“Từ giây phút ấy, tôi hiểu rằng cuộc đời mình đã bước sang một trang mới – trang của lý tưởng, của trách nhiệm và cả những hy sinh không bao giờ quên được.”

Những ngày huấn luyện gian khổ trên đất Quảng Ninh. Bác được điều về Quảng Ninh huấn luyện trong Trung đoàn 8 – Quân khu Tả Ngạn. Cuộc sống thời chiến thiếu thốn đến mức bộ đội phải ở nhờ nhà dân, ngủ trên những chiếc giường tre ọp ẹp, màn thì không đủ, chăn chiếu rách vá chằng chịt. Cả làng gần như không còn thanh niên – tất cả đều ra chiến trường – chỉ còn lại người già, phụ nữ và trẻ nhỏ. Chính vì vậy, tình quân dân trở nên gắn bó hơn bao giờ hết.

Sau những giờ huấn luyện cơ bản – chạy bộ, đánh võ, điều lệnh, mang vác nặng… – bác và đồng đội lại tranh thủ giúp dân: quét sân, gánh nước, trông con, làm ruộng, xay lúa giã gạo. Công việc nặng nhọc nhưng bác chưa bao giờ than vãn. Bác bảo:“Thời ấy chỉ cần giúp người dân được điều gì là vui. Người lính Cụ Hồ sống vì dân, ở với dân, rời đi mà dân còn nhớ – đó mới là điều đáng tự hào.”Tinh thần ấy được bác ghi lòng tạc dạ qua câu phương châm mà bác luôn nhắc đi nhắc lại:

“Đi dân nhớ, ở dân thương.”

Bữa ăn lúc đó thì vô cùng đạm bạc: Sáng chỉ có mèn mén ngô,trưa,chiều ăn cơm độn ngô, gạo ít hơn ngô,rau thì hái vội ở bờ suối,nước chấm đôi khi cũng không đủ. Nhưng bên cạnh thiếu thốn là tiếng cười lạc quan, là niềm tin vào ngày giải phóng. Kết thúc huấn luyện, đơn vị bác hành quân ròng rã suốt ba tháng trời vào chiến trường Tây Nguyên. Đường rừng hiểm trở, đèo dốc liên miên, vắt bám đầy chân, ba lô nặng trĩu, nhưng tất cả đều kiên cường bước tiếp vì nhiệm vụ Tổ quốc giao phó.

Khói lửa chiến trường Tây Nguyên – nơi rừng núi khắc tên người lính. Vào đến chiến trường, bác được bổ sung vào C4 – D1 – E48 – F30A, thuộc lực lượng pháo binh bộ binh, mang khẩu DKZ 82 – loại pháo nòng ngắn nhưng vô cùng nặng nòng pháo 23 kg,máy ngắm 3 kg,đạn DKZ mỗi quả nặng gần 7 kg.Trong khi đó, một tiểu đội chỉ có năm người. Trong mỗi cuộc hành quân, người lính phải mang theo cả vũ khí, lương khô, tăng võng, đạn dược, bình nước – có khi tổng cộng đến hơn 30–40 kg trên vai. Vượt suối, băng đèo, ngâm mình trong bùn đất không biết bao nhiêu lần. Những vùng nước khan hiếm, các anh phải chuyền tay từng can nước, tiết kiệm từng ngụm một.

Có những đêm vượt sông Pô Cô – dòng nước chảy siết nổi tiếng bộ đội buộc phải cột dây vào người, bám theo nhau để tránh bị cuốn trôi. Đêm rừng Tây Nguyên lạnh buốt, tiếng côn trùng rờn rợn, tiếng đại bác vọng từ xa, tất cả khắc sâu thành ký ức không thể nào phai.

Những trận chiến ghi dấu cả cuộc đời

1. Chiến dịch Tây Nguyên năm 1972

Đó là trận mở màn, cũng là trận ác liệt bậc nhất mà bác từng trải quaTrước giờ xuất kích, cả đơn vị đồng thanh hô vang:

“Trường Sơn chuyển mình, Pô Cô dậy sóng!

Quét sạch quân thù – Giải phóng Tây Nguyên!”

Đạn pháo nổ không dứt, đất đá tung mù trời. Bộ đội phải chạy đạn, chuyển

gạo, khiêng thương binh, dựng pháo trong điều kiện thiếu thốn mọi bề. Nói chuyện cũng phải nói thật nhỏ, bác gọi là “nói như gió” để tránh máy nghe lén của địch.Nhiều đồng đội ngã xuống ngay bên cạnh, nhưng hàng ngũ lại được

lấp đầy bởi những người lính trẻ khác – những người chỉ có một ước muốn duy nhất: đánh thắng để đất nước hòa bình.

2. Chiến dịch giải phóng Buôn Ma Thuột năm 1975

Ngày 8/3/1975, đơn vị bác tham gia đánh ở hướng Bắc Buôn Ma Thuột, góp phần mở đường cho tổng tiến công lịch sử. Khói lửa bao phủ bầu trời thị xã. Bác nhớ mãi hình ảnh những đồng chí cầm hai lá cờ hiệu:Cờ trắng là tiến công,Cờ đen là dừng lại để chờ đội hình phía sau.Đó là những giây phút mà ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ là một gang tay.Trong trận ấy, bác bắt

sống ba tù binh, trong đó có một sĩ quan địch. Với tinh thần dũng cảm, bình tĩnh trong chiến đấu và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bác được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba – phần thưởng mà bác luôn nói rằng đó là công lao của cả tập thể, của những người đã không trở về.Những ký ức nghẹn ngào trong ngày đất nước thống nhất.Ngày 29 tháng 4 năm 1975, khi cả đất nước

chỉ còn một ngày nữa là hoàn toàn giải phóng, bác ngồi bên triền đồi, lặng. người nghĩ về những đồng đội đã nằm lại:

-Có người tuổi mới mười tám đôi mươi.

-Có người chưa kịp viết thư về nhà lần cuối.

-Có người đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt.

Bác trở về sau chiến tranh – bác nói – là “một may mắn mà nhiều người không có”. Chính vì vậy, bác luôn dặn con cháu và những người trẻ rằng:

“Hòa bình không bao giờ là điều dễ dàng.Nó được đánh đổi bằng máu xương của biết bao thế hệ.Hãy sống tử tế, sống có nghĩa, chấp hành pháp luật,đặc

biệt người cán bộ phải gương mẫu –để xứng đáng với sự hy sinh ấy.”

Những lời bác nói giản dị nhưng chứa đựng cả một trời ký ức, một đời trải nghiệm của người lính đã đi qua chiến tranh và trở về để vun đắp cho cuộc sống hòa bình hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Vũ Hiển | Câu chuyện thời hoa lửa