Vũ Lập
VỊ TƯ LỆNH ĐẦU TIÊN CỦA QUÂN KHU 2, NGƯỜI GẮN BÓ VỚI CHIẾN TRƯỜNG TÂY BẮC
Thượng tướng Vũ Lập (1924–1987), tên thật là Nông Văn Phách, là người dân tộc Tày, quê tại xã Vĩnh Quang, thị xã Cao Bằng trước đây. Ông là một tướng lĩnh cấp cao của Quân đội nhân dân Việt Nam, từng đảm nhiệm nhiều trọng trách quân sự và chính trị, đặc biệt là cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Quân khu 2.
Sinh trưởng trong hoàn cảnh đất nước còn dưới ách thống trị của thực dân Pháp, Vũ Lập sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng. Năm 1941, khi mới 17 tuổi, ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng tại quê hương Cao Bằng.
Trong những năm đầu hoạt động, ông có điều kiện được rèn luyện và trưởng thành trong phong trào cách mạng ở Việt Bắc, vùng căn cứ địa có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Tháng 2/1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, đánh dấu bước trưởng thành quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Vũ Lập tiếp tục phục vụ trong lực lượng vũ trang cách mạng. Tháng 12/1945, ông được điều động giữ chức Chi đội trưởng kiêm giáo viên Trường Quân chính.
Đến tháng 12/1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ, ông được giao giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn Vệ binh thuộc Bộ Quốc phòng.
Trong những năm kháng chiến, Vũ Lập tiếp tục trưởng thành qua nhiều nhiệm vụ quân sự, tích lũy kinh nghiệm về tổ chức, huấn luyện và chỉ huy lực lượng.
Tháng 2/1955, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Đại đoàn 316, còn được gọi là Đại đoàn Bông Lau.
Tháng 6/1962, Vũ Lập được giao giữ chức Tham mưu trưởng Quân khu Tây Bắc. Sau đó, ông được cử sang Trung Quốc học tập tại học viện quân sự nhằm nâng cao trình độ chỉ huy và tham mưu.
Kết thúc khóa học, ông trở về nước, tiếp tục đảm nhiệm chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu Tây Bắc.
Trong giai đoạn 1970–1973, Vũ Lập được giao giữ chức Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam thuộc Bộ Tư lệnh 959, thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Lào.
Đây là giai đoạn cuộc kháng chiến tại Lào diễn ra quyết liệt. Trên cương vị chỉ huy, ông cùng các lực lượng quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân đội và nhân dân Lào trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Đặc biệt, ông có những đóng góp trong quá trình tổ chức, chỉ huy lực lượng tham gia Chiến dịch Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng năm 1972, góp phần bảo vệ địa bàn chiến lược quan trọng và củng cố tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào.
Tháng 4/1974, Vũ Lập được phong quân hàm Thiếu tướng. Hai tháng sau, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân khu Tây Bắc.
Sau ngày đất nước thống nhất, hệ thống tổ chức quân khu được điều chỉnh nhằm đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Tháng 6/1976, ông được giao giữ chức Phó Tư lệnh Quân khu 1, sau khi Quân khu Tây Bắc được sáp nhập vào Quân khu 1.
Năm 1976, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV. Tháng 1/1977, ông đảm nhiệm chức Trưởng ban Dân tộc Trung ương.
Ngày 21/6/1978, Quân khu 2 chính thức được thành lập theo Sắc lệnh số 62/LCT của Chủ tịch nước. Vũ Lập được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Quân khu.
Trên cương vị này, ông trực tiếp tham gia xây dựng tổ chức, củng cố lực lượng và chỉ đạo nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tại địa bàn Tây Bắc và khu vực biên giới phía Bắc.
Tháng 2/1979, cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc bùng nổ. Quân khu 2 trở thành một trong những địa bàn trọng điểm, đảm nhiệm nhiệm vụ tổ chức lực lượng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu, các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương và nhân dân trên địa bàn phối hợp thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ biên giới.
Sau giai đoạn chiến sự năm 1979, tình hình biên giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Vũ Lập cùng tập thể chỉ huy Quân khu tiếp tục đảm nhiệm nhiệm vụ củng cố thế trận phòng thủ và xây dựng lực lượng vũ trang.
Năm 1980, ông được thăng quân hàm Trung tướng. Đến tháng 12/1984, ông tiếp tục được phong quân hàm Thượng tướng, ghi nhận những đóng góp trong sự nghiệp cách mạng và xây dựng quân đội.
Bên cạnh sự nghiệp quân sự, Vũ Lập còn là một cán bộ lãnh đạo có nhiều đóng góp trong công tác dân tộc. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng các khóa IV, V, VI và đại biểu Quốc hội các khóa VII, VIII.
Ngày 17/7/1987, Thượng tướng Vũ Lập qua đời khi đang đảm nhiệm cương vị Tư lệnh Quân khu 2, hưởng thọ 63 tuổi.
Với những đóng góp trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thực hiện nhiệm vụ quốc tế và bảo vệ Tổ quốc, ông được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Từ người thanh niên dân tộc Tày tham gia cách mạng tại Cao Bằng đến vị Thượng tướng đảm nhiệm trọng trách tại Quân khu 2, Vũ Lập đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đặc biệt, ông được ghi nhớ là vị Tư lệnh đầu tiên đặt nền móng cho quá trình xây dựng và phát triển Quân khu 2, đồng thời là người có nhiều đóng góp đối với tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân Việt Nam và Lào.



