Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Không rõ
Vũ Xuân Thiều là người con thứ 7 trong gia đình. Trên Thiều có các chị, các anh: Vũ Thị Kim Thịnh, Vũ Xuân Thăng, Vũ Thị Kim Quy, Vũ Xuân Quang, Vũ Thị Kim Ngân và Vũ Thị Kim Nhu. Sau Thiều còn 3 người em nữa là Vũ Thị Kim Anh, Vũ Thị Kim Bình và Vũ Hữu Nghị.
Ông bố của Thiều - ông Vũ Xuân Sắc là người ở An Trạch, Hải An, Hải Hậu, Nam Định. Thời trẻ, ông rời quê lên thành phố Nam Định trọ học. Quý mến chàng trai quê An Trạch với tính tình hiền hậu, khôi ngô, thông minh... ông bà chủ nhà đã gả con gái của mình là Vũ Thị Vượng cho chàng trai trọ học ấy. Vậy là chàng trai trọ học và cô con gái chủ nhà đã nên duyên vợ chồng. Ông sắc và bà Vượng tổ chức lễ cưới khi bà Vượng vừa tròn 17 tuổi. Một năm sau - cô con gái đầu lòng Vũ Thị Kim Thịnh ra đời.
Rồi ông Sắc rời Nam Định lên Hà Nội học ở trường Bưởi. Công việc gia đình một mình bà Vượng chăm lo, xoay sở. Bà lẳng lặng thu xếp mọi việc: chăm con, lo miếng cơm manh áo cho chồng yên tâm đèn sách. Rồi các con cứ lần lượt thi nhau ra đời, thi nhau ăn, thi nhau lớn... Bà như hình bóng "con cò lặn lội bờ sông", tần tảo tháng ngày không hề hé răng kêu ca nửa lời, hết mực yêu chồng, thương con.
Thời gian học ở trường Bưởi, ông Sắc đã sớm được giác ngộ lí tưởng cách mạng, nên dù đang đi học ông đã là một thành viên tích cực tham gia rải truyền đơn tuyên truyền cho cách mạng. Vì vậy, khi ông đang học Tú tài phần hai, ông đã bị mật thám Pháp và chính quyền bảo hộ trục xuất khỏi Hà Nội. Ông buộc phải trở lại Thành phố Nam Định, về Nam Định, dù bị quản thúc nhưng ông vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng dưới sự dìu dắt của các cụ Nguyên Lương Bằng, Đặng Viết Châu...
Một thời gian sau, phần vì lo cho ông Sắc đã bị mật thám Pháp theo dõi, có tên trong sổ đen, đang bị quản thúc nên hoạt động sẽ có nhiều khó khăn, phần vì Đảng cũng cần phải có nguồn tài chính để hoạt động nên tổ chức đã động viên ông Sắc chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực kinh doanh để lấy tiền giúp Đảng và các đồng chí hoạt động.
Vợ chồng ông Sắc - bà Vượng chuyển sang làm kinh tế - mở cơ sở dệt vải, làm đũi.
Cơ sở sản xuất của ông bà vừa là nguồn cung cấp kinh tế cho Đảng, vừa là nơi nuôi giấu các cán bộ của Đảng như các cụ Đặng Xuân Khu, Nguyễn Lương Bằng...
Từ năm 1942 - 1943, khi Phát xít Nhật đem quân vào Đông Dương, mọi hoạt động đều bị ngừng trệ, cơ sở sản xuất vải, đũi của ông bà cũng đóng cửa. Ông bà không làm kinh tế nữa mà chuyển sang hoạt động trong "Hội truyền bá Quốc ngữ" rồi đi lên chiến khu tiếp tục hoạt động.
Đầu năm 1945, ông Sắc được cử đi dự Đại hội Quốc dân được tổ chức ở Tân Trào để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.
Tháng 2 năm 1945, Thiều ra đời. Lý do đặt tên là Thiều - có lẽ có phần nào gắn với tên của anh ngay trên Thiều là Vũ xuân Quang với câu thơ trong truyện Kiều của Nguyễn Du: "Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi" chăng? Cũng chẳng ai khẳng định được ý tứ sâu xa của ông bà khi đặt tên cho Thiều, nhưng dầu sao "Thiều Quang" vẫn có nghĩa là "ánh sáng đẹp". Anh Quang là "ánh sáng" rồi thì Thiều là "đẹp". Và năm 1945, vận mệnh của đất nước cũng bắt đầu xoay chuyển theo hướng tốt đẹp.
Khi chiến tranh bùng nổ, ông Sắc đi theo kháng chiến, bà Vượng đưa các con về quê. Đến cuối năm 1946 thì bà Vượng lại bồng bế, dắt díu các con lên thuyền, ngược Nho Quan đi theo kháng chiến. Cụ Nguyễn Lương Bằng đã tổ chức đưa gia đình lên chiến khu. Cả nhà được đưa lên một chiếc xe ô tô "đít vịt" do ông Đóa lái đến Hòa Bình. Từ Hòa Bình lên Tuyên Quang là phải đi theo đường thủy. Đến cây số 7 của Tuyên Quang thì thấy có một số gia đình cùng lên chiến khu đã đợi nhau ở đấy. Họ tập trung lại cùng nhau và cùng tạm trú trong một nhà kho. Dọc hai bên đường có rất nhiều bom đạm các loại chất thành từng đống. Không khí chiến tranh bao trùm khắp các thôn làng. Bà Vượng bế Thiều trên tay, rồi dắt díu các anh các chị của Thiều. Tất cả vây quanh bà, lo âu, sợ sệt. Không sợ sệt sao được khi tất cả các anh chị tuổi đều còn nhỏ, chưa nếm mùi bom đạn bao giờ mà nay thấy cơ man nào là bom xung quanh, lại ở một nơi lạ nước lạ cái, chẳng bóng dáng người quen thuộc nào, rừng rú thì um tùm, núi non trùng điệp, quạnh hiu...


