Đỉnh cao của những chiến tích ấy là đã đánh bại cuộc tập kích đường không chủ yếu bằng máy bay ném bom chiến lược B - 52 - loại "siêu pháo đài bay bất khả xâm phạm" của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác vào cuối tháng 12 năm 1972, làm nên chiến thắng "Điên Biên Phủ trên không" huyền thoại trong vòng 12 ngày đêm.
Tác giả cuốn "Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử" coi những dòng viết của mình như nén tâm nhang và như sự tri ân tưởng nhớ Anh hùng liệt sĩ Vũ Xuân Thiều cùng các liệt sĩ phi công khác - những người đã xếp lại những đôi cánh bay của mình trong các trận không chiến, góp phần giành lại cho bầu ười Tổ quốc sự yên bình.
Tác giả cũng muốn được chia sẻ và biết ơn đến tất cả các lớp phi công đã từng bỏ bao sức lực, trí tuệ của mình cho các chuyến bay, cho các trận chiến vì sự thắng lợi, vì sự nghiệp chung, dù ở bất kỳ cương vị nào cũng chỉ coi mình như những người lính canh trời, quyết không để bầu trời bị kẻ thù xâm lấn.
Trong những trận chiến giành quyền làm chủ bầu trời, có biết bao tấm gương hy sinh quên mình chưa được nhắc đến, đặc biệt là với đội ngũ phi công bay đêm. Tác giả muốn góp một phần nhỏ để bạn đọc hiểu thêm về đội ngũ phi công bay đêm với những chiến công, với sự gian lao, vất vả và sự hy sinh thầm lặng của họ trong cuộc chiến tranh khốc liệt, khi kẻ thù muốn đưa đất nước ta trở về "thời kỳ đồ đá"...
Trong chiến dịch "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không", lực lượng đánh đêm chi có hơn chục phi công, trong khi các sân bay lại bị địch đánh phá ác liệt, đường băng, đường lăn vỡ nát, xung quanh còn đầy rẫy bom thù, nhưng đội ngũ phi công bay đêm vẫn chấp nhận khó khăn, đối mặt với hiểm nguy, cất cánh chia lửa với các lực lượng phòng không khác để đánh địch, góp phần giành thắng lợi, vẻ vang...
Viết về người Anh hùng liệt sĩ - phi công Vũ Xuân Thiều không thể không viết đến các đồng đội, đồng chí của Anh - những phi công bay đêm, đánh đêm khác đã từng sống, từng chiến đấu cùng với người Anh hùng suốt cả trong giai đoạn dài kể từ ngày đi học bay đến ngày thành phi công chiến đấu của Trung đoàn Không quân chiến đấu. "Một cây làm chẳng nên non". Người Anh hùng liệt sĩ là mối dây liên lạc mật thiết để bạn đọc hiểu thêm các đồng đội của Anh.
Với nhiệm vụ đánh B - 52, trận đánh đêm 20 tháng 11 năm 1971 của Vũ Đình Rạng - người đầu tiên giáp mặt và bắn trọng thương "siêu pháo đài bay B - 52" đã khẳng định: phi công bay đêm có thể hạ gục được B - 52.
Trận đánh đêm 27 tháng 12 năm 1972 của Phạm Tuân như đã "trả được món nợ" của Không quân khi bắn rơi tại chỗ B - 52, và trận đánh đêm 28 tháng 12 năm 1972, Vũ Xuân Thiều đã lập nên kỳ tích sáng ngời tấm gương Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng...
Để có được một chuyến bay, nhất lại là một chuyến bay chiến đấu cất cánh được lên trời, phải có biết bao nhiêu thành phần phục vụ, đảm bảo cho chuyến bay ấy mới có thể hoàn thành nhiệm vụ.
Trong khuôn khổ cuốn sách này, tác giả xin chỉ được nói đến đội ngũ phi công, chủ yếu là phi công bay đêm, đánh đêm bay trên loại máy bay MIG - 21.
Trong quá trình tìm hiểu, khai thác các tư liệu có liên quan đến nội dung cuốn sách này, tác giả đã nhận được sự cổ vũ, động viên và sự nhiệt tình giúp đỡ của nhiều thành phần. Xin được bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình anh Vũ Xuân Thiều và các anh phi công tiêm kích chiến đấu - những đồng đội, đồng chí và bạn hữu của anh Vũ Xuân Thiều.
Cuốn sách có thể còn có nhiều khiếm khuyết. Rất mong bạn đọc góp ý. Xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử« Trả lời #2 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2016, 09:55:42 am » | LỜI MỞ Tháng 4 năm 1965 ở trường Đại học Bách khoa đã xảy ra một sự kiện đặc biệt. Đó là 10 chàng trai - 10 sinh viên của trường có lệnh nhập ngũ vào Quân chủng Phòng Không - Quân để được đi đào tạo thành những người lái máy bay - những phi công tiêm kích chiến đấu.
10 chàng trai sinh viên đó là:
Vũ Xuân Thiều - sinh viên năm thứ ba
Trần Ngọc Nhuận - sinh viên năm thứ ba
Nguyên Phú Đức - sinh viên năm thứ haí
Đặng Xây - sinh viên năm thứ hai
Trần Thông Hào - sinh viên năm thứ nhất
Hoàng Quốc Dũng - sinh viên năm thứ nhất
Doãn Thắng - sinh viên năm thứ nhất
Phạm Văn Vịnh - sinh viên năm thứ nhất
Nguyễn Văn Phúc - sinh viên năm thứ hai
Nguyễn Tiến Sâm - sinh viên năm thứ nhất
 10 phi công chiến đấu MIG-21 sinh viên trường đại học Bách Khoa Hà Nội Trong số 10 sinh viên này, có Vũ Xuân Thiều và Nguyên Phú Đức là cùng học lớp Vô tuyến điện thuộc khoa Điện. Tất cả các anh đều học xong năm thứ nhất, thứ hai, còn anh Thiều, anh Nhuận thì đã học hết năm thứ ba rồi.
Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa thời bấy giờ là thày Hoàng Xuân Tùy, Bí thư Đảng ủy là thày Bùi Nguyên Cát đã tổ chức chiêu đãi bữa cơm trưa thân mật, gặp mặt 10 sinh viên của mình để động viên và chia tay các trò trước khi sang Liên-Xô học tập. Số lượng các sinh viên của trường Đại học Bách khoa nhập ngũ không phải là ít, nhưng số "xếp bút nghiên theo việc đao cung" hơn nữa lại là những người sẽ trở thành các phi công - những người lính canh trời thì chỉ có đợt này là đợt đầu tiên (của trường, của cả đất nước) và là đợt rầm rộ nhất.
Và 7 năm sau, một trong số 10 chàng trai sinh viên ấy đã lập nên kỳ tích: bắn rơi máy bay ném bom chiến lược B - 52 "siêu pháo đài bay" của lực lượng Không quân Mỹ và đã anh dũng hy sinh. Chàng trai sinh viên ấy là Vũ Xuân Thiều - sinh viên lớp Vô tuyến điện.
Năm 1994, Vũ Xuân Thiều đã được truy tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".
 Các sinh viên khác trong nhóm 10 người cùng nhập ngũ ngày ấy đã chiến đấu ngoan cường trong chiến tranh, đã bắn hạ máy bay của lực lượng Không quân Mỹ, góp phần giữ yên bầu trời. Khi rời khỏi đội ngũ phi công - đội ngũ của những người lính canh trời, họ đã tiếp tục học tập và đảm nhận những cương vị trọng trách của các tổ chức ngoài quân đội. Ví dụ: anh Nguyên Phú Đức từng giữ cương vị Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục Du lịch Việt Nam, anh Nguyễn Tiến Sâm (Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) từng giữ chức Thứ trưởng Bộ giao thông vận tải, Cục trưởng Cục hàng không dân dụng Việt Nam, anh Đặng Xây từng đảm nhận cương vị Giám đốc Công ty bao bì xuất nhập khẩu, anh Trần Ngọc Nhuận về công tác ở Viện Chiến lược Bộ giao thông vận tải, anh Doãn Thắng từng giữ chức Tham tán công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Nga và chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Cộng hòa Séc. Anh Trần Thông Hào từng giữ chức vụ Hiệu trưởng trường Không quân Nha Trang, Hiệu trưởng trường Trung Cao Không quân, rồi về Cục Khoa học Công nghê Môi trường Bộ Quốc Phòng, anh Hoàng Quốc Dũng là Trưởng khoa Phòng không Không quân ở Học viện quân sự cấp cao... | |
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Sáu, 2016, 10:04:08 am gửi bởi Giangtvx » | Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử« Trả lời #3 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2016, 02:18:39 pm » | Vũ Xuân Thiều đã để lại những kỷ niệm, những dấu ấn khó phai mờ trong ký ức của mọi người. Và đồng chí, đồng đội, bạn hữu... nói về Xuân Thiều như sau:
Nguyễn Phú Đức - người cùng nhập ngũ, cùng bay năm đầu tiên của đời học viên bay với Vũ Xuân Thiều:
Thiều bị cái hay nôn mửa. Chuyến bay trên chiếc máy bay vận tải Li - 2 bay từ Kras - nô - đar về Akh -ta - ri, Thiều nôn ghê lắm. Hôm sau khi bay đi xem địa hình, Thiều còn nôn kinh khủng hơn. Hôm bay trở lại Kras – nô - đar để khám sức khỏe, ngồi lên máy bay là Thiều đã nôn rồi. Khi khám sức khỏe xong, đi ăn trưa, sau bữa ăn trưa vừa ra khỏi nhà ăn, nhác thấy bóng chiếc Li - 2 đậu ở ngoài sân đỗ là ngay lập tức, Thiều ngồi thụp xuống, nôn thốc nôn tháo!...
Đặng Xây - cựu phi công bay đêm cùng Đại đội bay đêm với Vũ Xuân Thiều:
Thiều vóc dáng mảnh khảnh, sức khỏe không đuợc tốt lắm, hay nôn mửa, nhưng được cái dù rằng đã học đến hết năm thứ ba Đại học rồi mà sống vẫn rất chan hòa cùng anh em, không hề khoe khoang, hợm hĩnh.
Nguyễn Xuân Phong - người cùng đoàn bay năm đầu tiên trên loại máy bay Iak-18a với Vũ Xuân Thiều:
Đấy là một gã đầu to. (Mà quả thực đầu Thiều to thật, cỡ mũ phải lớn thì mới đội vừa đầu!). Tóc hung vàng. Rất hay nhận được thư với phong bì màu xanh, trên đó ghi dòng chữ:
"Em gửi cho anh Chiếc phong bì màu xanh Màu uớc mơ hy vọng..."
Tính tình thẳng thắn, ít nói, nhưng nói rất chắc chắn. Học giỏi nhưng tính trầm nên không nổi trội.
Mà không biết có phải là “điềm gở" không, trong những ngày của "12 ngày đêm", Thiều lại gửi tôi một hộp gồm có thư từ và ảnh nhờ mang về Hà Nội chuyển cho gia đình. Tôi đã chuyển và mấy ngày sau thì Thiều hy sinh!
Hà Quang Hưng - đồng đội cùng đoàn bay MiG- 21 khóa 3 với Vũ Xuân Thiều:
Đây là một con người trí thức, dáng dấp rất "trai Hà Nội" - sống hòa đồng, hiền hậu, thông minh. Một con người sống bằng nội tâm. Tư cách thì vừa như thanh niên thành phố, lại như thanh niên huyện hoặc người Bí thư Đoàn.
...
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Cốc - (người từng bắn rơi 9 máy bay Mỹ):
Lực luợng bay đêm là lực lượng đặc biệt, được chuẩn bị đặc biệt và đã lập chiến công đặc biệt trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không". Thiều là người rất hiền, tận tình giúp đỡ mọi người, chân tình như một người chị cả vậy!
Vũ Đình Rạng - phi công cùng đoàn bay MiG- 21 khóa 3, cùng đại đội bay đêm với Vũ Xuân Thiều và là người đầu tiên giáp mặt và bắn trọng thương "siêu pháo đài bay B-52" đêm 20 tháng 11 năm 1971:
Đấy là một con người điềm tĩnh, sống chan hòa, giúp đỡ anh em đến nơi đến chốn trong học tập, nhưng không có sự nổi trội trong hoạt động bề nổi.
Nguyễn Công Huy - phi công từng ở cùng trung đội bay đêm với Vũ Xuân Thiều:
Ấn tượng của tôi khỉ gặp Thiều là Xuân Thiều có đầu to quá khổ, mái tóc "rễ tre" mọc ngang bướng đâm tủa ra với màu hung vàng như dây đồng. Khi cắt tóc cho Thiều, tôi vẫn đùa: "Không cẩn thận, để tóc vụn của Thiều bắn vào mắt thì chỉ có mù!". Và có lẽ, Thiều có biệt danh Thiều “dây đồng" từ đấy. Trong đội ngũ bay đêm thì anh Trần Thông Hào lại có bộ tóc đen như mun, nên có biệt danh Hào "dây chì".
Vai Xuân Thiều rộng, hông lại nhỏ, tôi ví như "chiếc đàn ghi-ta dựng ngUỢc!". Mà Thiều chơi ghi-ta thì cũng buồn cười lắm: cứ phập phừng...phập phừng... Chẳng vậy mà khi viết "Phác thảo về các phi công đoàn bay M1G-21 khóa 3", tôi đã phác thảo chân dung Thiều như sau:
Chàng hiệp sĩ dây đồng Chơi đàn tựa bật bông Trời Sơn La xanh thẳm Mãi mãi ghi chiến công!
Nguyễn Hữu Khoán - nguyên Trưởng Tiểu ban Quân lực Trung đoàn Không quân 921:
Chúng ta phải cám ơn Vũ Xuân Thiều, cám ơn những người như Vũ Xuân Thiều. Các anh đã hy sinh để giành lại sự yên bình. Sự hy sinh của các anh có ý nghĩa lớn lao lắm chứ! | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử« Trả lời #4 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2016, 02:23:18 pm » | Trần Anh Mỹ - phi công bay đêm của Trung đoàn Không quân 927:
Khi biên chế về trung đoàn 927, anh Thiều là trung đội trưởng của tôi.
Tôi chưa thấy ai cẩn thận như anh Thiều bao giờ. Mỗi lần nhận được thư người yêu, anh không bóc thư như những nguời khác mà lấy kéo cắt theo mép phong bì, đọc xong lại xếp cẩn thận vào trong một chiếc hộp. Trước ngày anh hy sinh, mấy anh em ngồi chơi tú-lơ-khơ với nhau. Cứ ván nào anh Thiều về bét là anh ấy lại nói: "Vậy là tao lại cầm chắc cái bằng liệt sĩ rồi!". Chẳng rõ đấy có phải là "điềm gở" không?. Ngày hôm sau, anh ấy bay đến sân cơ động và rồi từ sân bay cơ động ấy, anh xuất kích, hy sinh trong trận đánh trên bầu trời Sơn La
Trần Ngọc Nhuận - người cùng học Đại học bách khoa, cùng nhập ngũ và cùng bay với Vũ Xuân Thiều trong nhiều năm kể từ ngày bay năm đầu tiên của đời bay:
Thiều là một trong số ít phi công chiến đấu có dáng dấp thư sinh nhất. Thày I-va-nôp - giáo viên bay trên loại máy bay MIG-17 là người khá cục cằn, hay chửi mắng học viên, nhưng lại luôn ưu ái, quý mến anh chàng học viên trắng trẻo, ăn nói nhỏ nhẹ, dễ chịu này. về ý thức kỷ luật, tinh thần học tập, rèn luyện thì Thiều cũng luôn là người gương mẫu.
Ngược lại với vẻ bề ngoài ấy thì tính cách của Thiều lại là người rất có bản lĩnh, khá lì.
Trong khi thực hành các bài bay huấn luyện xạ kích, Thiều thường xử lí khá táo bạo, quyết liệt, kết quả luôn luôn đạt điểm tối ưu.
Trần Thông Hào - người cùng học Đại học Bách khoa, cùng nhập ngũ, cùng bay với Vũ Xuân Thiều trong nhiều năm, cùng Đại đội bay đêm:
Thiều là nguời rất tốt bụng, trung thực, thẳng thắn, bảo vệ cái đúng đến cùng.
Là người sống rất có văn hóa, không thích kiểu "đao to búa lớn" mà góp ý với ai thường tế nhị hoặc trao đổi, góp ý, nhận xét riêng chỉ khi có hai người với nhau.
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Ngọc Lan - người phi công đầu tiên bắn hạ máy bay Mỹ trên bầu trời Hàm Rồng - Thanh Hóa ngày 3 tháng 4 năm 1965:
Lực lượng phi công bay đêm của ta tuy ít, nhưng bọn Mỹ luôn phải suy nghĩ và tìm cách đối phó. Các phi công bay đêm đã làm nên điều rất đáng tự hào. Xuân Thiều là một phi công rất có kỷ luật, sổng có văn hóa, đối xử với nhau rất có tình.
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Đăng Kính - một trong những cán bộ Đại đội đầu tiên khi thành lập Đại đội bay đêm:
Thiều là phi công dũng cảm, kiên nghị, rất hăng hái, muốn đánh trận.
Hoàng Biểu - cựu cán bộ, cựu phi công bay đêm của Đại đội bay đêm:
Thiều là một con người sống tình cảm, nghiêm túc trong cả chuyện chung lẫn chuyện riêng. Chấp hành nghiêm mọi nghị quyết, đặc biệt nghị quyết đánh B-52 và đã thực hiện đúng những gi đã ghi trong nghị quyết.
Bùi Doãn Độ - phi công bay đêm của Đại đội 5:
Anh Thiều là người hiền lành, chân thật, nhưng rất có quyết tâm tiêu diệt địch.
Nguyễn Khánh Duy - phi công bay đêm của Đại đội 5:
Anh Xuân Thiều là con người tuyệt vời, là người rất cẩn thận, tôn trọng, nâng niu tình cảm. Khi nhận được thư, không bao giờ bóc mà lấy kéo cắt mép phong bì. Có những bức thư anh còn cẩn thận sao chép ra một quyển sổ riêng nữa kia.
Trần Cung - cựu phi công bay đêm của Đại đội 5:
Thiều tiếp thu nhanh, là người trầm tính, có tính kiên trì, sẵn lòng giúp đỡ đồng đội.
Trung thành và dũng cảm.
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, phi công vũ trụ Phạm Tuân - người bắn hạ B-52 trong trận đánh đêm 27 tháng 12 năm 1972:
Lực lượng đánh đêm của ta mỏng, nhiều lúc không đuợc sử dụng một cách mạnh dạn. Xuân Thiều là một phi công dũng cảm.
Nguyễn Văn Quang - cựu phi công bay đêm của Đại đội 5:
Bay đêm là một hoạt động thầm lặng. Khi vào bay đêm thì mới hiểu hết tính chất phức tạp của nó. Bản thân phi công bay đêm phải vượt qua đuợc chính mình để rèn bản lĩnh, chờ thời cơ.
Xuân Thiều là người có chất nhân văn cao. Một người có tri thức, sống có văn hóa.
Vũ Thị Kim Bình - em gái của Vũ Xuân Thiều:
Tháng 12 năm 1972, lúc đó tôi đang học ở trường Bưu điện Matx-cơ-va, nhận được tin anh hy sinh, tôi không thể nào tin được. Trước đó tôi đã đến thăm các anh Vũ
Ngọc Đỉnh, Nguyễn Văn Cốc... ở Mô-nhi-nô. Tôi đã mơ lúc: anh sẽ được cử sang đó học thì vui biết mấy... Nhưng tất cả vẫn chỉ là ước mơ, và vì không thể tin được rằng anh không còn nữa, nên nhiều tháng sau, khi đang ngồi trên giảng đường, tôi vẫn tưởng tượng rằng anh sẽ đột ngột xuất hiện ở cửa lớp, mỉm cười vẫy tay ra hiệu đợi tôi ngoài hành lang, giống như bốn năm về trước anh đã đột ngột đến đón tôi ở Đan Phượng... Và, mãi mãi điều đó chỉ là giấc mơ!...
Dù sao tôi nghĩ anh Thiều đã sống một cuộc sống hạnh phúc và ý nghĩa. Anh đã thực hiện được ước mơ từ bé của mình: lái máy bay tiêm kích. Anh đã sống hết mình với tình yêu của mình: tình yêu đất nước, gia đình, bạn gái, và rất yêu bầu trời!...
| |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử« Trả lời #5 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2016, 10:43:35 am » |
TRỞ THÀNH HỌC VIÊN BAY Vũ Xuân Thiều là người con thứ 7 trong gia đình. Trên Thiều có các chị, các anh: Vũ Thị Kim Thịnh, Vũ Xuân Thăng, Vũ Thị Kim Quy, Vũ Xuân Quang, Vũ Thị Kim Ngân và Vũ Thị Kim Nhu. Sau Thiều còn 3 người em nữa là Vũ Thị Kim Anh, Vũ Thị Kim Bình và Vũ Hữu Nghị.
Ông bố của Thiều - ông Vũ Xuân Sắc là người ở An Trạch, Hải An, Hải Hậu, Nam Định. Thời trẻ, ông rời quê lên thành phố Nam Định trọ học. Quý mến chàng trai quê An Trạch với tính tình hiền hậu, khôi ngô, thông minh... ông bà chủ nhà đã gả con gái của mình là Vũ Thị Vượng cho chàng trai trọ học ấy. Vậy là chàng trai trọ học và cô con gái chủ nhà đã nên duyên vợ chồng. Ông sắc và bà Vượng tổ chức lễ cưới khi bà Vượng vừa tròn 17 tuổi. Một năm sau - cô con gái đầu lòng Vũ Thị Kim Thịnh ra đời.
Rồi ông Sắc rời Nam Định lên Hà Nội học ở trường Bưởi. Công việc gia đình một mình bà Vượng chăm lo, xoay sở. Bà lẳng lặng thu xếp mọi việc: chăm con, lo miếng cơm manh áo cho chồng yên tâm đèn sách. Rồi các con cứ lần lượt thi nhau ra đời, thi nhau ăn, thi nhau lớn... Bà như hình bóng "con cò lặn lội bờ sông", tần tảo tháng ngày không hề hé răng kêu ca nửa lời, hết mực yêu chồng, thương con.
Thời gian học ở trường Bưởi, ông Sắc đã sớm được giác ngộ lí tưởng cách mạng, nên dù đang đi học ông đã là một thành viên tích cực tham gia rải truyền đơn tuyên truyền cho cách mạng. Vì vậy, khi ông đang học Tú tài phần hai, ông đã bị mật thám Pháp và chính quyền bảo hộ trục xuất khỏi Hà Nội. Ông buộc phải trở lại Thành phố Nam Định, về Nam Định, dù bị quản thúc nhưng ông vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng dưới sự dìu dắt của các cụ Nguyên Lương Bằng, Đặng Viết Châu...
Một thời gian sau, phần vì lo cho ông Sắc đã bị mật thám Pháp theo dõi, có tên trong sổ đen, đang bị quản thúc nên hoạt động sẽ có nhiều khó khăn, phần vì Đảng cũng cần phải có nguồn tài chính để hoạt động nên tổ chức đã động viên ông Sắc chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực kinh doanh để lấy tiền giúp Đảng và các đồng chí hoạt động.
Vợ chồng ông Sắc - bà Vượng chuyển sang làm kinh tế - mở cơ sở dệt vải, làm đũi.
Cơ sở sản xuất của ông bà vừa là nguồn cung cấp kinh tế cho Đảng, vừa là nơi nuôi giấu các cán bộ của Đảng như các cụ Đặng Xuân Khu, Nguyễn Lương Bằng...
Từ năm 1942 - 1943, khi Phát xít Nhật đem quân vào Đông Dương, mọi hoạt động đều bị ngừng trệ, cơ sở sản xuất vải, đũi của ông bà cũng đóng cửa. Ông bà không làm kinh tế nữa mà chuyển sang hoạt động trong "Hội truyền bá Quốc ngữ" rồi đi lên chiến khu tiếp tục hoạt động.
Đầu năm 1945, ông Sắc được cử đi dự Đại hội Quốc dân được tổ chức ở Tân Trào để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.
Tháng 2 năm 1945, Thiều ra đời. Lý do đặt tên là Thiều - có lẽ có phần nào gắn với tên của anh ngay trên Thiều là Vũ xuân Quang với câu thơ trong truyện Kiều của Nguyễn Du: "Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi" chăng? Cũng chẳng ai khẳng định được ý tứ sâu xa của ông bà khi đặt tên cho Thiều, nhưng dầu sao "Thiều Quang" vẫn có nghĩa là "ánh sáng đẹp". Anh Quang là "ánh sáng" rồi thì Thiều là "đẹp". Và năm 1945, vận mệnh của đất nước cũng bắt đầu xoay chuyển theo hướng tốt đẹp.
Khi chiến tranh bùng nổ, ông Sắc đi theo kháng chiến, bà Vượng đưa các con về quê. Đến cuối năm 1946 thì bà Vượng lại bồng bế, dắt díu các con lên thuyền, ngược Nho Quan đi theo kháng chiến. Cụ Nguyễn Lương Bằng đã tổ chức đưa gia đình lên chiến khu. Cả nhà được đưa lên một chiếc xe ô tô "đít vịt" do ông Đóa lái đến Hòa Bình. Từ Hòa Bình lên Tuyên Quang là phải đi theo đường thủy. Đến cây số 7 của Tuyên Quang thì thấy có một số gia đình cùng lên chiến khu đã đợi nhau ở đấy. Họ tập trung lại cùng nhau và cùng tạm trú trong một nhà kho. Dọc hai bên đường có rất nhiều bom đạm các loại chất thành từng đống. Không khí chiến tranh bao trùm khắp các thôn làng. Bà Vượng bế Thiều trên tay, rồi dắt díu các anh các chị của Thiều. Tất cả vây quanh bà, lo âu, sợ sệt. Không sợ sệt sao được khi tất cả các anh chị tuổi đều còn nhỏ, chưa nếm mùi bom đạn bao giờ mà nay thấy cơ man nào là bom xung quanh, lại ở một nơi lạ nước lạ cái, chẳng bóng dáng người quen thuộc nào, rừng rú thì um tùm, núi non trùng điệp, quạnh hiu... |
|
|