VỮNG VÀNG TAY LÁI
VỮNG VÀNG TAY LÁI Ghi theo lời kể của ông ĐINH THỌ Phụ trách Ban khởi nghĩa tài xế thợ máy

Được sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy tiền phương, tôi được giao nhiệm vụ thành lập Ban khởi nghĩa của lực lượng tài xế thợ máy. Đúng 7 giờ ngày 27-3-1975, tại nhà anh Trần Lang, chợ mới Ba Xã, 37 tài xế thợ máy trong đó có các anh Ông Văn Dinh, Đinh Công Trứ, Nguyễn Hạnh, Trần Chính, Nguyễn Khoa, Nguyễn Lương Mênh…được triệu tập chính thức nghe quyết định thành lập Ban khởi nghĩa, nhận lệnh chuẩn bị phương tiện vận chuyển để phục vụ cho chiến dịch giải phóng thành phố Đà Nẵng. Trần Lang, người công nhân có thâm niên cao nhất trong nghề được phân công làm trưởng ban. Tất cả những anh em còn lại đều là những người dày dạn trong công việc, có chung một ước nguyện được cống hiến sức mình cho cách mạng. Trong giờ phút này, mỗi người như cảm thấy mình vụt lớn. Lực lượng như thế mở cờ.
Thông qua đường dây giao liên là chị Kiều Thị Bốn và Nguyễn Thị Tám, Ban khởi nghĩa hoạt động theo sự truyền đạt của cấp trên. Số tài xế thợ máy ở Đà Nẵng lúc bấy giờ ở vào con số 800 người. Phải tập hợp cho được lực lượng này để phục vụ cho chiến dịch!. Đây là một nhiệm vụ đầy khó khăn, nhưng phải thực hiện bằng được của Ban khởi nghĩa. Những tài xế như anh Đinh Như, Nguyễn Thuận, anh Tịnh, anh Kỵ… là những người đã được vận động đầu tiên, nắm giữ các đầu xe, âm thầm chờ lệnh.
Đúng 12 giờ tối ngày 28-3-1975, nhận lệnh ở trên, tôi triệu tập gấp Ban khởi nghĩa ngay tại bến xe chợ Cồn. Nhiệm vụ gấp rút phải thực hiện trước nhất, đó là việc đưa anh em tài xế thợ máy đi lấy xe mà trung đoàn 59 của địch đã bỏ chạy tán loạn ở khu vực chợ Mới Ba Xã. Chìa khóa xe không có, anh em rút dây, đề nổ, đưa xe vào giấu trong các kiệt, hẻm ở chợ Mới Ba Xã và Trà Kiểm. Trong 10 chiếc xe thu được đầu tiên, có 7 chiếc GMC, 1 chiếc Zep và 2 chiếc xe 2 cầu 21 chỗ ngồi. Anh Tám Chính được phân công phụ trách tổ xe này, chuẩn bị chờ lệnh chuyển quân.
Sáng ngày 29-3, lực lượng Ban khởi nghĩa phối hợp với lực lượng địa phương đánh tan rã quân Sư đoàn 3 ngụy, tiêu diệt và bắt sống trên một trung đội địch. Từ đó, Ban khởi nghĩa tiến thẳng vào Đà Nẵng. Đúng 10 giờ sáng ngày 29-3, tôi cho một tài xế lái chiếc xe vừa chiếm được của bọn quân cảnh (một loại xe mà bọn địch thường dùng để đi lại trên đường phố khống chế lực lượng Cách mạng) đến ngay tại trụ sợ Ban khởi nghĩa để thị uy. Đồng thời, cho quân đi thám báo nắm chặt chẽ tình hình của địch báo về cấp trên.
Lúc này trên khắp các ngã đường thành phố, bọn thủy quân lục chiến, cảnh sát dã chiến, quân cảnh hợp thành từng toán, ngang dọc mọi lối, đập phá, bia rượu đổ tràn. Hình hài bọn địch vừa tai quái, vừa thảm hại và tuyệt vọng. Cánh tài xế thợ máy được tập trung ngày càng đông đảo, họ được lệnh của ban khởi nghĩa, phối hợp với dân chúng tung cho bọn địch những tin tức làm chúng càng thêm hoảng hốt. Lúc này chúng được tin: “Quân giải phóng đã đến ngã ba Huế”.Lát sau chúng lại được tin: “Quân giải phóng đã ra đến Non Nước’’. Chưa kịp hoàn hồn, dân chúng lại bồi thêm: “Quân cộng sản đã có mặt dày đặc ở phi trường”…Sự hoang mang lên đến cực độ, bọn địch dường như đều bỏ xe mà chạy. Nhiều tên chỉ còn kịp cởi áo chạy vụt vào chùa Tỉnh Hội cầu xin yên ổn. Anh em tài xế thợ máy tiếp tục chiếm giữ tất cả các xe mà bọn địch bỏ chạy. Lại khẩn trương tìm chỗ giấu, chờ lệnh.
Lệnh truyền về: Đúng 12 giờ trưa 29-3-1975, treo cờ khởi nghĩa.
Lúc 11h 45 phút, ban quản lý xe khách chợ Cồn bỏ chạy. Tôi trực tiếp chỉ huy anh em chiếm lĩnh trụ sở. Trước tình hình tàn quân địch hết sức hỗn loạn, tôi quyết định thực hiện công việc trước 15 phút để xem sự chống trả của địch như thế nào?. Ban khởi nghĩa hội ý chớp nhoáng. Tôi cùng trên 20 anh em là tài xế thợ máy đem theo 2 thùng lựu đạn, 4 khẩu AK…buộc ông già bảo vệ tên là Cho mở cửa trụ sở bến xe chợ Cồn. Anh em lao vào trụ sở, mở loa phóng thanh, phát lệnh khởi nghĩa, đọc lời kêu gọi của Chính phủ Lâm thời. Cùng lúc, lá cờ Cách mạng được chính những đôi tay chai sạn, dính đầy dầu mỡ của những người thợ máy treo lên trên nóc lầu nghiệp đoàn ngụy.
Quân địch ngỡ ngàng. Vài phút sau đó, không khí như lặng đi. Lúc này, bọn địch lục tục kéo vào đầu hàng, súng ống chất thành một ụ. Anh Nguyễn Hạnh được giao nhiệm vụ đánh giấy chứng nhận khai hàng cho địch. Những tên lính trẻ măng khai vắn tắt: “Tôi tên…quê quán…đã giao nộp vũ khí…”.
Sau giờ phút này, Ban khởi nghĩa tung toàn bộ xe đang có tại bến, chừng 62 chiếc, cho ra các hướng để chở quân giải phóng vào chiếm lĩnh Tòa Thị chính, cảng, nhà máy Điện Đà Nẵng. Các chuyến xe chạy liên tục suốt buổi chiều ngày 29. Đến 1 giờ kém 20 phút, 4 chiếc xe bọc thép của cách mạng cùng một lực lượng bộ đội đến trụ sở Ban khởi nghĩa tài xế thợ máy phối hợp bảo vệ.
Trong thời điểm này, tôi nhớ mãi, có một ông già nhà cạnh bến xe, mãi đến 3 giờ chiều mới hé cánh cửa, ló đầu ra ngoài. Tôi nhìn ông cười. Ông cũng mỉm cười đáp lại:
- Chú ở trên núi xuống hả?
- Dạ!
- Mời chú vào nhà uống nước.
Theo ông vào nhà. Ngó quanh, con cái trốn biệt đi đâu cả, mãi sau, mới rón rén đem nước ra đặt sè sẹ trên bàn. Tôi nói với ông về những người cách mạng. Tôi nói với ông về ý nghĩa của một thành phố, một đất nước được giải phóng. Ông lắng nghe, và hiểu ra nhiều điều.
Tối ngày 29-3, tôi cùng quân giải phóng tỏa vào từng nhà dân, ổn định tư tưởng cho bà con. Sáng ngày 30-3, hòa trong số đông bà con ở khu vực chợ Cồn ra đường dọn dẹp rác rưởi ứ đọng đầy đường đi lối lại, tôi lại được gặp nụ cười thân thiện của ông già. Nụ cười thân thiện, ấm áp này đã theo tôi suốt bao nhiêu năm tháng ở trong đời. Có lẽ, đó là nụ cười đôn hậu nhất của một người dân thường mà tôi bắt gặp sau những phút giây Đà Nẵng mới giải phóng.
Ngày 30-3-1975, bến xe chợ Cồn chật cứng xe các loại. Xe đậu thành hàng dài. Xe nằm ra cả lề đường. Lúc này, số xe tổng cộng đã trên 300 chiếc. Trên buồng lái của mỗi chiếc xe, tưới rói nụ cười của cánh tài xế thợ máy. Anh em chưa kịp vui niềm vui giải phóng, thì phải lo cái chuyện nhiên liệu cho xe. Xe thì quản được rồi. Nhưng xăng còn nằm hết ở tư nhân, chưa quản được, khác nào như giữ cục sắt trong tay. Sau khi xin ý kiến các đồng chí lãnh đạo, tôi và Ban khởi nghĩa đi đến các cây xăng đọc lệnh kiểm kê xăng. Cũng có một vài người phản đối, nhưng sau đó, tất cả các cây xăng đều chấp thuận. Kể từ sau ngày 30-3-1975, tất cả các cây xăng trong thành phố chỉ được cho xe ăn xăng khi có lệnh.
Ngày 31-3-1975, theo lệnh của đồng chí Hồ Nghinh, chúng tôi có nhiệm vụ đưa bà con di tản về lại quê hương. Lượng xe được tập kết lúc bây giờ đã lên đến 800 chiếc, bãi xe chuyển đến sân vận động Chi Lăng. Suốt 4 ngày liên tiếp, những chuyến xe chạy không biết mỏi, đưa trên 1 triệu người dân về lại Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Những chuyến xe chưa kịp ngưng lấy một ngày, anh em lại được lệnh, chuyển 18.200 quân vào giải phóng Sài Gòn. Lúc này, ngoài 800 xe đã có, ban khởi nghĩa đã vận động được 13 chiếc xe loại 52 chỗ ngồi ở các tỉnh khác vào thành phố lấy xăng dầu, tham gia chuyển quân. Trong đợt phục vụ chiến dịch này, chiếc xe mang biển số HA-2505 do anh Đoàn Văn Nhứt lái đã bị trúng mìn và anh dũng hy sinh. Cũng như anh các đồng chí Trứ, Hòe, Qúy, Tâm, Hội, Vinh, Mẫn, Diện, Hải, Thận…cũng đã anh dũng hy sinh. Họ ngã xuống trong những ngày mà cả nước đang tiến thật gần đến ngày thống nhất.
Công việc vẫn cứ nối tiếp nhau, gấp gáp và hối hả. Nghĩ tới ngày cả nước được giải phóng, anh em tài xế thợ máy lại vượt qua nỗi thương đau trước mất mát của đồng đội, quên hết mọi mệt nhọc, bất cứ giờ phút nào cũng sẵn sàng nổ máy, nhận lệnh. Những đôi tay siết lại vững vòng hướng thẳng về phía trước…


