Vương Thừa Độ tấm gương Cựu chiến binh 35 năm bền bỉ “nói chuyện truyền thống” và “kể chuyện Bác Hồ”
Khi về xã Vân Du tỉnh Nghệ An, không ai là không biết đến người
CCB Vương Thừa Độ ở chi hội CCB xóm 12. Ông có vóc dáng nhỏ
gọn, tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, tính tình vui vẻ, hiếu khách, lúc
nào cũng nở nụ cười trên môi làm cho mọi người từ trẻ đến già đều yêu
quý ông.
Sinh ngày 22 tháng 12 năm 1952, nhập ngũ tháng 12 năm 1973, xuất
ngũ tháng 12 năm 1990, sau đó ít ngày Vương Thừa Độ đã làm đơn và
được kết nạp vào Hội CCB Việt Nam ngày 22 tháng 12 năm 1990.
Rời quân ngũ, Ông trở về với cuộc sống đời thường nhưng không chọn
cho mình sự nghỉ ngơi an nhàn. Thay vào đó, Ông tiếp tục một “mặt
trận” mới – mặt trận giáo dục truyền thống để hun đúc lòng yêu nước, ý
chí và trách nhiệm cho thế hệ mai sau. Điều đó, phần nào toát lên đức
tính, bản lĩnh, phong cách của người quân nhân cách mạng “Bộ đội Cụ
Hồ”, đây cũng là cái duyên kết Vương Thừa Độ vào con đường “vác tù
và” đi nói chuyện truyền thống – Kể chuyện Bác Hồ suốt 35 năm qua,
nhất là vào những ngày các cơ quan, đơn vị, nhà trường trên địa bàn xã
Vân Du và các địa phương lân cận tổ chức hoạt động kỷ niệm các ngày
lễ lớn của dân tộc, như: chào mừng Cách mạng tháng 8 thành công và
Quốc khánh 02/9/2025. Đặc biệt, từ ngày 06/12 đến ngày 22/12/2025
Ông đã miệt mài đi nói chuyện truyền thống cho 6 trường học và 8 chi
hội CCB ở xã Vân Du.
Vào một ngày đầu năm 2026, được biết Vương Thừa Độ đang trị chấn
thương do đi đường trời mưa trơn trượt làm anh bị ngã xe, chúng tôi
đến nhà thăm Ông với tâm thế, anh em, bạn bè đồng nghiệp. Vợ Ông,
chị Đậu Thị Mùi là giáo viên đã nghỉ hưu vừa từ trong nhà đi ra, tay bê
một đĩa bưởi da xanh, ruột đỏ mọng nước, miệng cười tươi rôm rả
chào, Chị mời chúng tôi uống nước chè xanh, ăn bưởi; rồi nhân lúc vui
chuyện, chị kể về chuyện tình trước, trong và sau khi hai người nên vợ,
thành chồng, chuyện vất vả của nghề giáo viên miền núi khi chồng ở
xa, một mình vừa làm cha, vừa làm mẹ nuôi con ăn học khôn lớn
trưởng thành, chuyện anh Độ hết trường này, đơn vị nọ, cơ quan kia…
mời đi nói chuyện truyền thống, kể chuyện Bác Hồ suốt cả tuần, cả
tháng,..v..v. Chúng tôi chăm chú lắng nghe và không khỏi cảm phục về
một gia đình, một cặp vợ chồng, một CCB như gia đình Vương Thừa
Độ. Nhân lúc chị Mùi xin phép ra ngoài, tôi thủ thỉ hỏi Vương Thừa
Độ: Khi đứng trước các CCB, các cán bộ của Đảng, Chính quyền, trước
hàng ngàn thầy cô giáo và học sinh để nói chuyện truyền thống – kể
chuyện Bác Hồ, Ông cảm nhận như thế nào? Vương Thừa Độ nhấc cặp
kính lão đưa chiếc khan mùi soa trắng lên chấm chấm vào hai khoé
mắt, sau đó đeo lại cặp kính rồi thong thả nói: “Không dấu gì các anh,
bất cứ khi nào cũng vậy; tôi coi Đảng ở vị thế hàng A, CCB ở vị thế
hàng B. Vì vậy, khi đứng trước bất cứ đối tượng nào để nói chuyện
truyền thống hay kể chuyện Bác Hồ, mình phải luôn ở tâm thế là người
đảng viên tiêu biểu của Đảng. Hãy nói chuyện thật, kể chuyện thật; hãy
có dẫn chứng, có tài liệu kiểm chứng, hãy tìm bằng được tài liệu chính
thống của Đảng cho mỗi chủ đề trước khi đi nói chuyện hoặc kể
chuyện, để nghiên cứu, để tập thả hồn, tập diễn cảm, làm cho sự kiện
đó, câu chuyện đó thấm sâu vào tâm hồn, trí óc của người nghe, từ đó
chắc chắn là đã xây đắp thêm tình yêu quê hương, đất nước, tri ân
những hy sinh mất mát của các Anh hùng, Liệt sĩ, các Mẹ Việt Nam anh
hùng, các nhà Cách mạng tiền bối. Hiểu rõ hơn, thấm sâu hơn các giá
trị Lịch sử Cách mạng Việt Nam để truyền dạy cho các thế hệ mai sau
biết cách gìn giữ, bảo vệ và phát huy các giá trị đó…”
Với chất giọng trầm ấm, lôi cuốn, thu hút, không giống như người đang
trả lời câu hỏi, mà như người đang truyền đạt một âm thanh Cách mạng
của Đảng. Một loại âm thanh làm cho người nghe không thể dứt ra
được mà cứ muốn nuốt, nuốt mãi cho đến khi âm thanh đó tạm dừng.
Tấm gương của người CCB ấy đã góp phần quan trọng trong việc giáo
dục lý tưởng sống, lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.
Ông chính là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp những giá trị lịch sử
không bị mai một theo thời gian.
Khi những tia nắng đầu ngày đã lên khỏi vòm đồi phía sau nhà Ông,
chúng tôi đề nghị anh chị Độ Mùi cho thăm vườn ong của gia đình và
xin chụp vài tấm hình làm kỷ niệm. Dù tay còn chống nạng, nhưng có
chị Mùi mạnh dạn dìu lên vườn ong, những tổ ong mật được đặt xen
dưới từng gốc cây ăn quả và các rãnh chè xanh, làm cho khu vườn càng
thêm phong phú, tươi mát. Được biết, hằng năm gia đình Ông thu
hoạch được bao nhiêu từ mật ong, chè xanh đều được nhân dân quanh
vùng đến thu mua hết.
Trong xã hội hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy
cơ bị lãng quên, những con người như Ông càng trở nên đáng quý hơn
bao giờ hết. Sự cống hiến thầm lặng nhưng bền bỉ suốt 35 năm của Ông
là minh chứng sống động cho tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước và ý
chí không ngừng nghỉ.
Tấm gương ấy không chỉ đáng trân trọng mà còn là nguồn động lực để
mỗi chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, tự soi mình, học tập và tiếp bước,
góp phần xây dựngquê hương, đất nước ngày càng phát triển, giàu
mạnh và văn minh.



