Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

“Vượt sông Bến Thủy – Giây phút đoàn tụ”

Trên đường hành quân trở về quê, người lính dừng chân tại Bến Thủy bên dòng sông Lam, sau chặng đường dài hơn 120 km. Không chờ được phà sang Vinh, vì nỗi mong gặp vợ con quá mãnh liệt, anh quyết định mạo hiểm bơi qua con sông rộng. Vượt dòng nước bằng ý chí và sức lực, anh đặt chân lên bờ bên kia, tiếp tục đi bộ về làng. Khoảnh khắc nhìn thấy hai đứa con nhỏ và người vợ thân yêu, mọi gian khổ của hành trình tan biến, nhường chỗ cho niềm hạnh phúc đoàn tụ giản dị mà thiêng liêng của người lính s

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lúc bé đang học lớp ba trường làng, tôi đọc trong quyển Quốc văn giáo khoa thư và được thầy giảng thêm về ông Đào Duy Từ. Ông người Thanh Hóa, thuở nhỏ nhà nghèo nhưng rất hiếu học. Lớn lên thành người tài. Do con nhà “Xướng ca vô loài” chế độ phong kiến bây giờ không cho ông thi cử. Ông bỏ Chúa Trịnh vào Nam phục vụ Chúa Nguyễn. Hơn 50 tuổi ông mới được Chúa Nguyễn trọng dụng. Chính ông là người khởi xướng, đứng ra tổ chức xây dựng bức trường thành chạy theo sông núi trên đỉnh đèo Ngang, chống lại quân Trịnh nhiều lần Nam tiến thôn tính Chúa Nguyễn. Người ta gọi đó là lũy Trường Dục, cũng có tên Lũy Thầy. Đã hơn 300 năm di tích Lũy Thầy còn đó.

Tôi đứng bên cửa trường thành cạnh lề con đường xuyên Việt trên đỉnh đèo mà ngậm ngùi tưởng nhớ người xưa. Nơi đây đã từng bao nghìn nhân mạng bỏ thây trong cuộc phân tranh Nam - Bắc kéo dài 45 năm (1627 - 1672).

Trên trụ đá cổng trường thành người ta ghi chi chít không biết cơ man nào chữ ký, những câu thơ của khách bộ hành. Mặc dù nôn nóng được sớm về thăm nhà, tôi vẫn cố nán thời gian khá lâu đứng đây ngắm cảnh.

Ở các tỉnh địa đầu phía Bắc có câu hát: “Đường lên xứ Lạng quanh quanh, non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Ở đây cũng “non xanh nước biếc”, cũng “Cỏ cây chen đá lá chen hoa”… Nhưng không một bức “tranh họa đồ” nào dù là tuyệt tác từ bàn tay tài hoa của một danh họa so sánh được cảnh bài trí nơi đây của tạo hóa. Tuyệt đẹp! Tôi ngẩn ngơ đến xuất thần. Từ trên cao nhìn xuống, con đường màu sẫm nổi bật trên nền xanh cây cỏ, uốn lượn quanh co từ đỉnh vắt xuống chân đèo chạy dài tít tắp xuôi ra cánh đồng Kỳ Anh. Trông ra biển, biển mênh mông bao la. Mặt biển ban mai phẳng lặng như tấm gương trải rộng đến chân trời. Mặt trời nhích dần từng chút như nhô lên từ biển cả to bằng mặt thúng đỏ ối rực rỡ. Nước biển liên tục thay màu bởi ánh nắng mai. Quê tôi không xa biển. Biển với tôi không lạ nhưng lần đầu trong đời được nhìn biển lúc bình minh rạng tỏ từ trên đỉnh cao của dãy núi hùng vĩ lãng đãng khí thu. Biển trời, núi non, cây lá, hoa cỏ, bảng lảng mây thưa, sương sớm lờ mờ, vật vờ khói núi hòa quyện vào nhau thành mảng trời nước pha trộn nhiều màu sắc ẩn hiện lung linh huyền ảo. Tôi như thoát tục quên bẵng con đường dài đang chờ phía trước.

Mãi mê trầm tư si cảnh, tôi không biết có người đến sau lưng. Nghe tiếng chào tôi giật mình. Thì ra một đồng chí bộ đội. Hỏi thăm nhau biết tên anh là Thu mang quân hàm trung sĩ. Quê anh huyện Cảnh Dương. Anh thuộc binh đoàn dù đóng quân ở Phú Thọ. Bố mất, anh được về phép. Chịu tang bố xong anh trở ra đơn vị.

Thê là tôi có bạn đồng hành.

Hơn 6 giờ, từ đỉnh đèo chúng tôi xuất phát tiếp tục cuộc hành trình. Thu mới hơn 20 tuổi, trẻ lại lính dù nên rất sung sức, anh bám sát tôi. Chúng tôi đi trên lộ 1 không hề gặp, không hề thấy một bóng người. Vườn tược thôn xóm ven đường hoang tàn vắng vẻ. Hệ thống cầu công đều bị bom Mỹ đánh sập. Đồng ruộng bỏ hoang. Nghe tiếng máy bay chúng tôi ẩn trốn. Gặp suối gặp sông dù nông hay sâu, rộng hay hẹp chúng tôi vượt qua. Chỉ dừng nghỉ trưa dưới cái cầu sập lấy cơm vắt và tí muối đậu ra ăn. Đến 8 giờ tối vượt qua thị trấn Voi (thuộc đất Hà Tĩnh) mới dừng nghỉ đêm. Vùng này đồng bào ven lộ vẫn bám đồng chưa lánh cư.

Cơm nước xong, tôi mắc võng ngoài mái hiên căn nhà của hai mẹ con bà cụ nông dân làm bài tính nhẩm.

Đoạn đường chúng tôi đi qua khoảng trên 80 ky lô mét. Trừ giờ nghỉ cuộc hành trình mất đi 15 tiếng. Vị chi mỗi giờ chúng tôi đi được trung bình 5,4 ky lô mét. Như thế đã vượt chặng đường khá dài. Qua đây tôi liên tưởng đến cuộc hành quân thần tốc của quân đội Tây Sơn.

Những năm cuối của thế kỷ 18 (1788) vua Quang Trung Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc tiêu diệt quân xâm lược Mãn Thanh. Tổ chức điều hành cuộc hành quân chưa thấy sử sách ghi chép rõ ràng cụ thể. Nhiều ước đoán trở thành truyền thuyết như ba người thì hai khiêng một. Cứ thế vừa luân phiên nghỉ ngơi. Hoặc giải quyết việc nấu ăn không phải dừng quân bằng cách hai người vừa đi vừa khiêng nồi, một người cầm đuốc cháy để dưới nồi thay bếp. Nghe vậy biết vậy tôi không tin chuyện này có thật. Đến hôm nay thực tế chúng tôi vượt qua đoạn đường người xưa đã đi làm tôi lý giải được điều cho là không thể có.

Nguyễn Huệ được tin báo quân xâm lược Mãn Thanh đã vào Thăng Long. Ngày 21 tháng 12 năm 1788 (tức ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân). Người lên ngôi Hoàng đế. Ngày 22 tháng 12 năm 1788 người hạ lệnh tiến quân. Ngày 26 tháng 12 năm 1788 hội quân thủy bộ tại Nghệ An. Như vậy thời gian hành quân của quân đội Tây Sơn từ Phú Xuân (Huế) ra Vinh (Nghệ An) mất 5 ngày đêm với chặng đường dài trên dưới 350 ky lô mét. Một ngày đêm có 24 giờ. Nếu cho dừng quân nghỉ ngơi giải quyết chuyện ăn uống hết 10 giờ. Còn lại 14 giờ hành quân. Trong 5 ngày đêm quân đội Tây Sơn có thời gian nghỉ ngơi 50 giờ... và 70 giờ cơ động. 70 giờ với chặng đường 350 ky lô mét. Tốc độ như thế bình thường so với tốc độ của chúng tôi đi hôm nay. Nếu so với tốc độ hành quân mang vác nặng của bộ đội ta thời nay suýt soát không hơn bao nhiêu. Dĩ nhiên đường đi lúc bấy giờ không suôn sẻ thẳng băng như bây giờ. Thời đánh Pháp bộ đội ta hành quân lên Tây Bắc hoặc Điện Biên Phủ hay qua Thượng Lào cũng như quân Tây Sơn hành quân ra Bắc lúc đó.

Tôi nghĩ quân Tây Sơn không phải cứ đi đến đâu mới xẻ núi san đường bắc cầu đến đó mà đã có chuẩn bị từ lâu. Nguyễn Huệ và chư tướng của ông trước đó đã đôi ba lần từ Phú Xuân ra Thăng Long. Ông tiên đoán trước sau gì quân Thanh cũng tràn sang ta xâm lược. Một vị chỉ huy tài ba kiệt xuất như ông không thể không có sự chuẩn bị nhiều mặt cho cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Đường đi nước bước ra Thăng Long ông thuộc nằm lòng. Sông lớn suối sâu, đèo cao vực thẳm không thể không có cách khắc phục. Từ Phú Xuân ra Bắc do chính quyền Tây Sơn hoàn toàn kiểm soát. Được lệnh ông các quan binh địa phương không thể không gấp rút thực hiện mọi chuẩn bị cho công tác bảo đảm như tập kết sẵn vật liệu, phương tiện dụng cụ làm cầu phao, bè mảng thuyền đò vượt sông, chọn vị trí đặt trạm dừng quân, tích trữ lương thực thực phẩm,... Vả lại cuộc hành quân chia hai đường thủy bộ. Đường thủy có hạm thuyền do Đô đốc Lộc chỉ huy. Những thiết bị trang cụ nặng có thể đi bằng đường này. Chiến sĩ bộ binh được trang bị gọn nhẹ hành quân nhanh. Hơn nữa trong các đội quân của ông có hàng trăm voi chiến. Lúc lâm trận chúng là lực lượng xung kích rất lợi hại. Khi hành quân không thể không tận dụng làm phương tiện vận tải lương thực, trang cụ v.v..., Những điều kiện trên vô cùng thuận lợi cho việc cơ động các binh đoàn lớn Tây Sơn.

Thế thì việc gì phải làm cái chuyện khiêng người hoặc nấu ăn bằng đuốc cho cực.

Mờ sáng hôm sau anh em tôi tiếp tục lên đường. Hai giờ chiều đến Bến Thủy. Tại đây hàng trăm xe tải từ chiến trường ra được ngụy trang kín đáo đậu sát mép các dãy đồi, trong vườn cây... Đợi tối qua phà. Ngoài bến vắng tanh không một chiếc đò, không một bóng người lai vãng. Khác mấy tháng trước khi tiểu đoàn tôi hành quân bằng cơ giới qua phà ban ngày. Bấy giờ giặc trời Mỹ đánh phá Vinh thường hơn. Kỹ thuật phòng không nghiêm ngặt. Các loại xe chỉ vận chuyển vào ban đêm, không bật đèn pha chỉ dùng đèn gầm.

Tôi gặp đồng chí đội trưởng một đội xe gởi Thu quá giang ra Hà Nội. Anh em sẵn lòng giúp đỡ. Riêng tôi bồn chồn lo lắng. Ngồi đây chờ đến tối mới có phà. Một giờ lúc này với tôi kéo dài như tuần như tháng. Bên kia sông là Vinh. Đến đó hơn một giờ cuốc bộ là tôi giáp mặt vợ con. Tôi không ước mơ chuyện viễn vông chắp cánh bay như có người thường nghĩ. Thực tế hơn tôi chăm chú nhìn dòng chảy. Một vật gì đó lềnh bềnh trên mặt sông gần như đứng nguyên một chỗ. Dòng chảy không lên cũng không xuống. Tôi bật tiếng reo khẽ: nước đứng.

Một ý nghĩ táo bạo: bơi qua sông. Bề rộng mặt sông Bến Thủy phải từ bốn đến năm trăm mét. Tôi chưa bao giờ bơi qua một con sông rộng như thế. Có mạo hiểm không? - Tôi cân nhắc. Hơn hai ngày cuốc bộ với tốc độ khá nhanh. Vượt qua hơn 120 ky lô mét đường tôi vẫn sung sức không hề thấm mệt. Bấy giờ kể lại tôi ngạc nhiên không hiểu sức lực lúc đó tôi lấy đâu ra? Động lực thúc đẩy tôi chỉ có thể là nóng lòng muốn gặp mặt vợ. con. Điều này đã làm tôi bất chấp sự hiểm nguy gần như liều lĩnh.

Quyết tâm là làm. Tôi trải tấm ni lông đi mưa dồn tất cả mọi thứ vào cột túm thật chặt bằng dây võng không để nước vào. Bọc đồ trở thành cái phao và tôi lao xuống sông. Nhiều tiếng la hét sau lưng kêu tôi quay lại. Mặc, tôi vận dụng kiểu bơi ếch hai tay ôm bọc đồ ghì sát cằm, hai chân bung đạp nước lướt tới. Điều quan trọng điều hòa hơi thở nhịp nhàng với động tác chân. Cách bơi này hàng năm chúng tôi huấn luyện cho bộ đội trong khoa mục vượt sông.

Trên bờ ước lượng được khoảng cách. Xuống nước nhìn mặt nước mênh mông. Nếu không vững chí dễ hoang mang. Bình tĩnh, chậm rãi, không nôn nóng, nhịp nhàng... Tôi tự động viên mình bằng “thần chú” trên. Cứ thế tôi từ từ lướt tới từng mét một. Trong người tôi vẫn khỏe khoắn. Không cần nghỉ ngơi tôi mặc quần áo tiếp tục cuộc hành trình.

Một giờ sau tôi bước vào xóm nhỏ ẩn khuất sau hàng tre bên cạnh đường tàu của xã Hưng Mỹ. Một nhóm trẻ đang vui đùa trước sân. Hai đứa con tôi ngồi trên mảnh chiếu nhỏ. Thằng em hơn bảy tháng tuổi mình trần ngồi đối diện với con chị sắp kỷ niệm ngày sinh năm thứ tư.

Nén xúc động nước mắt muốn trào, tôi đứng mấy giây ngắm chúng rồi lao đến bế xốc thằng em, tay kéo con chị, miệng tôi lắp bắp: “Ba về đây con”. Ngỡ ngàng một chút chúng nhận ra tôi ôm ghì lấy ba. Ai đó chạy báo tin, vợ tôi đang giặt giũ ngoài mương vội vã chạy về. Chúng tôi ôm cả hạnh phúc vào lòng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn