Khác

VƯỢT TRƯỜNG SƠN

Đoạn văn kể về cuộc hành quân vượt dãy Trường Sơn năm 1965 của đơn vị công binh thuộc Sư đoàn 325 để vào chiến trường. Trong hành trình dài và gian khổ, bộ đội phải đối mặt với đói khát, bệnh tật, bom đạn và hiểm nguy của rừng núi, nhưng vẫn giữ vững kỷ luật, tinh thần lạc quan và tình đồng đội sâu sắc. Sau hai tháng hành quân, đơn vị đến Đắk Lắk và được biên chế vào Sư đoàn 3 Sao Vàng, chuẩn bị bước vào chiến đấu trên chiến trường Khu 5.

Lai Châu16/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại đội công binh chúng tôi được biên chế ba trung đội. Đồng chí Trần Hữu Biền là chính trị viên, Bí thư chi bộ; đồng chí Lê Xuân Chi là đại đội trưởng. Cả hai đồng chí đều quê Nghệ An. Đó là những cán bộ có ý chí, có kỷ luật và đầy trách nhiệm. Các anh là tấm gương sáng cho chiến sĩ chúng tôi noi theo.

Trước đó một tháng, đồng chí Thái Hiền Vỹ, trung đội trưởng, một cán bộ quê tỉnh Bến Tre, tập kết ra Bắc, đã đưa một trung đội đi trước cùng với một số đơn vị làm nhiệm vụ mở đường. Những năm sau đó, trung đội này chuyển đi đâu, chiến đấu như thế nào, ai còn, ai mất tôi không được rõ. Chỉ biết là sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, khi về thăm quê nhà lần đầu tiên vào tháng 11-1975, tôi được tin đồng chí Uông Văn Sâm - bạn chiến đấu cùng nhập ngũ một lúc với tôi năm 1964, đã hy sinh, cùng với một số anh em trong trung đội của đồng chí Thái Hiền Vỹ...

Đêm 16-3-1965, chúng tôi rời đất Quảng Bình, lên đường vào Nam mà lòng tràn đầy lưu luyến. Núi rừng miền tây Quảng Bình im lìm như đang trong giấc ngủ. Bầu trời không một gợn mây, đầy sao lấp lánh. Ánh trăng xuyên qua các kẽ lá, soi rõ bước chân đoàn quân đang lặng lẽ tiến về phía trước. Mọi người im lặng, không nói một câu. Chúng tôi bước đi mà trong lòng mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng tư. Nhìn những gốc cây, tảng đá, những con đường mòn dẫn vào chân núi, những con suối chảy róc rách, lòng tôi cảm thấy bồi hồi. Chúng tôi cố ghi lại trong ký ức những cảnh vật đã gắn bó với mình trong những tháng ngày luyện tập vất vả. Không ai trong chúng tôi có thể biết được là mình sẽ sống, sẽ có dịp trở lại nơi này...?

Tuyến đường ngày ấy chưa hình thành một cách rõ nét. Lúc đầu chỉ là những lối mòn từ các bản làng xuyên vào núi. Càng đi sâu vào phía Nam, đường càng khó đi. Đoàn quân bị hút dần vào đại ngàn Trường Sơn. Dọc đường, chúng tôi đi theo lối mòn của đoàn quân đi trước đã được đánh dấu. Con đường dần dần được phát rộng ra, làm thành bậc để vượt đèo. Đèo ngàn lẻ một (1001) là thử thách đầu tiên đối với tất cả các đơn vị đi B hồi đó. Sáng ăn cơm ở chân đèo phía Bắc; trưa ăn cơm nắm ở đỉnh đèo; chiều tối mới tới được chân đèo phía Nam. Sau nhiều năm, đường sá phát triển và đã sử dụng đến binh khí kỹ thuật, phương tiện vận tải cơ giới. Do đó địch đã chú ý và đánh phá ngày càng ác liệt, hòng ngăn chặn sự chi viện sức người, sức của từ miền Bắc vào miền Nam. Thế nhưng, ta cũng “Kiên quyết xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Và, con đường ấy, đã trở thành huyền thoại, thể hiện ý chí của toàn quân, toàn dân ta, quyết tâm giải phóng miền Nam. Ai đã một lần viếng thăm nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn mới thấy được sự hy sinh to lớn của cả một dân tộc, ý chí quật cường của các thế hệ vừa qua. Cho đến nay vẫn chưa có sách vở, tài liệu nào nói lên hết được những gian khổ, vất vả, ác liệt trên đường Trường Sơn của những người lính ngày ấy. Cũng chưa có một cuốn sách nào viết lên hết được về sự đóng góp, hy sinh to lớn của đồng bào các dân tộc thiểu số của chúng ta. Ngày nay, nhà nước chủ trương làm con đường Trường Sơn mang tên Bác, tạo điều kiện cho khu vực Tây Nguyên phát triển, cũng là một cách bù đắp lại một phần công lao của đồng bào trước đây.

Trên đường vào Nam chiến đấu có biết bao nhiêu câu chuyện cảm động và những tấm gương đáng khâm phục của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, những người con kiên cường anh dũng bám trụ trên trục đường và hết lòng ủng hộ bộ đội Cụ Hồ. Đó là những nam, nữ chiến sĩ giao liên, lặng lẽ, cần mẫn đưa các đoàn quân ra trận. Trên lưng họ mang gùi, bên trong là nắm cơm gạo mục, có khi chỉ là củ sắn. Họ đi suốt ngày này sang ngày khác, suốt năm này sang năm khác, bất kể gió mưa, bệnh tật, và bom đạn quân thù.

Trước đoàn quân chúng tôi là một anh giao liên, người dân tộc thiểu số, vai mang gùi, chân đi đôi dép cao su đã vẹt gót, tay cầm con dao đi rừng. Nước da ngăm đen, tóc chấm ngang vành tai, nhưng đôi mắt trong sáng và đặc biệt là dáng đi thoăn thoắt. Anh lội qua con suối, nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác như con sóc nhảy nhót trên cành cây. Mỗi lần đi lâu quá, chưa đến chỗ dừng chân, chúng tôi hỏi anh:

- Đã gần đến nơi chưa?

Anh trả lời:

- Còn một con dao quăng nữa!

Anh không giải thích độ dài “con dao quăng” là bao nhiêu, nhưng chúng tôi đi thêm một tiếng đồng hồ nữa, cũng vẫn chưa thấy đến. Chúng tôi thắc mắc. Có người vì mệt quá, cằn nhằn:

- Nói một “con dao quăng” mà sao lâu thế?

Anh đáp:

- Một giờ nữa mới đến!

Thì ra, người dân tộc ở đây khi đi rừng, đốn cây thường cầm dao một tay, một tay cầm thuốc hoặc cái tẩu đến khi mỏi thì đổi sang tay khác, mà thường phải hơn một giờ mới đổi tay. Có những anh lính, vì mệt nhọc quá, không kiên nhẫn được nữa, cứ hỏi liên tục. Anh giao liên tỉnh bơ và trả lời một câu, vừa gọn, vừa triết lý:

- Có đi, có đến, không đi không đến!

Thế là chúng tôi đành im lặng rảo bước một cách nặng nhọc. Cuối ngày, rồi cũng đến trạm dừng chân.

Thời gian đầu gần hậu phương miền Bắc, lương thực, thực phẩm còn dồi dào, sức khỏe mọi người còn tốt. Nhưng càng đi sâu vào miền Nam, càng xa hậu phương miền Bắc, càng thiếu thốn, sức khỏe càng giảm sút. Chúng tôi bắt đầu ăn sắn thay cơm, hái rau tàu bay, môn dóc, lá bứa1… làm thức ăn. Nhiều anh em do thiếu chất dinh dưỡng, nên đã sưng phù tay chân, mình mẩy. Những ngày nghỉ, giờ nghỉ, bộ đội lại vào rừng hái rau, hái măng, hoặc những thứ có thể cải thiện thêm bữa ăn hàng ngày của đơn vị. Đôi khi đã xảy ra tử vong do ăn phải nấm độc. Vì vậy, mà có câu thơ rằng:

Hải Dương ăn nấm từ trần
Hà Tây suýt chết một lần với Hải Dương.
Nhìn về xứ Nghệ mà thương
Chuối rừng ba nải, bụng trương phì phì...


Chả là có một số anh em quê tỉnh Hải Dương, chết vì ăn phải nấm độc trong rừng. Mấy anh em Hà Tây cũng suýt chết vì ăn theo. Còn số anh em quê Nghệ An thì ăn quả chuối rừng bị chứng khó tiêu, bụng căng phồng, nằm thở phì phò, trào cả nước mũi, nước miếng... Kinh nghiệm đường rừng dần dần được bộ đội Trường Sơn đúc kết, soạn thảo ra một cuốn sách nói về những vị thuốc Nam chữa bệnh, những loại rau ăn được hoặc những loại nấm độc, lá độc không nên đụng vào. Từ đó mà các đoàn quân sau này đã tránh được những trường hợp thương tâm.

Hàng ngày, sinh hoạt của chúng tôi theo một công thức lặp đi, lặp lại trên suốt chặng đường hành quân vào chiến trường: Sáng đi, tối đến trạm. Buổi sáng (có lúc 5 hay 6 giờ tuỳ theo đặc điểm, tính chất và tình hình của cung đường) thức dậy. Hành quân đến 11 - 12 giờ vừa được nửa cung đường, dừng lại ăn cơm nắm, sau một tiếng đồng hồ, lại tiếp tục hành quân. Chiều tối đến trạm giao liên. Trạm giao liên thường được tổ chức ở những nơi kín đáo có các khe, suối có cây để mắc võng ngủ qua đêm. Trạm này cách trạm khác một cung đường, đủ thời gian đi bộ trong một ngày. Thường thì tốc độ hành quân từ 2,5 đến 3 km trong một giờ, trong điều kiện mang vác nặng, lại phải trèo đèo, lội suối. Tùy đoạn đường xa hoặc gần địch mà có sự thay đổi về thời gian và tốc độ hành quân, cũng như đi đêm hoặc đi ban ngày. Trung bình các cung đường dài từ 25 - 30 km hoặc hơn.

Tại các trạm, thường có một số y tá, bác sĩ, một số giường bệnh và thuốc men để tiếp nhận, cấp cứu hoặc nuôi dưỡng tại chỗ cho một số thương bệnh binh trên dọc đường. Ngành Hậu Cần còn bố trí cả một số kho lương thực, thực phẩm chuyển từ hậu phương miền Bắc vào hoặc từ dưới vùng đồng bằng, địch hậu chuyển lên dự trữ và cung cấp cho các đoàn quân đi vào, đi ra khi hết lương thực. Mỗi trạm đều có một số anh chị em giao liên, người dân tộc thiểu số, hoặc anh chị em người Kinh ở dưới vùng đồng bằng lên. Tất cả đều vui vẻ, yêu đời và đầy tinh thần trách nhiệm. Có những cô gái người dân tộc mang trên vai cả bộ đàn T’rưng, đến những chỗ dừng chân nghỉ trưa, trên bờ suối nước chảy róc rách, các cô đánh đàn cho chúng tôi nghe để xua tan những mệt nhọc trên đường hành quân. Họ đã hy sinh cả những tình cảm lứa đôi từ lúc tuổi trăng tròn, ngày đêm gắn bó từng cung đường đã được phân công. Không phân biệt người Kinh hay người Thượng, họ đều gắn bó bên nhau như anh chị em trong một gia đình. Hàng ngày, họ chỉ biết lo sao cho hoàn thành nhiệm vụ đưa đoàn quân đi đến nới, về đến chốn được bí mật, an toàn.

Khi đến trạm giao liên, tiểu đội trưởng phân công các chiến sĩ, mỗi người một việc. Người chặt cây, người đi hái rau rừng, kiếm củi khô, người thì lau chùi vũ khí, che bếp, không cho ánh sáng ban đêm lọt ra ngoài, với nguyên tắc “Ban đêm cấm lửa, ban ngày cấm khói” để đề phòng máy bay địch phát hiện, oanh tạc. Ở những nơi gần địch, một số người được phân công nhiệm vụ đào công sự. Tôi thường được phân công đi tập trung các bi đông của tiểu đội, chế nước sôi vào cho ngày mai hành quân. Đôi khi trung đội trưởng điều tôi lên để ghi chép sổ sách. Đặc biệt, tiểu đội trưởng Võ Tùng, quê ở huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh rất “cưng” tôi. Đồng chí là người anh cả của tiểu đội, mẫu mực về trách nhiệm và tình cảm, luôn gần gũi, giúp đỡ động viên mọi người trong suốt chặng đường hành quân. Chúng tôi rất cảm phục đồng chí.

Có hôm, tiểu đội che xong bếp, vừa nhóm lửa lên nấu cơm thì máy bay địch xuất hiện. Lệnh báo động, phải tắt lửa ngay. Khi máy bay bay qua, vừa nhóm lửa trở lại, thì cơn mưa đầu nguồn ập đến làm tắt ngấm, khiến gần nửa đêm mọi người mới có cơm ăn.

Đêm nằm ngủ cũng không được ngon giấc, vì vắt ở Trường Sơn nổi tiếng độc địa. Những vết vắt cắn rất khó cầm máu. Có những loại vắt (gọi là vắt lá) màu xanh như lá cây, rất khó phát hiện. Thân tuy nhỏ như que tăm, nhưng chúng cắn đau nhói. Chúng thường bám vào các lá cây ven đường, ngóc đầu lên, hễ người đi qua là bám ngay vào quần áo, chui vào nách, vào bụng và những chỗ hiểm, da mỏng trong người mà cắn, mà hút máu. Khi đã no tròn chúng tự nhả ra, rơi xuống đất, máu thấm ướt quần áo suốt cả ngày cũng không cầm được. Về sau, anh em bày cho nhau lấy lá rau má, hoặc lá chua me đất đắp lên vết cắn, cầm máu ngay. Đây là một kinh nghiệm mang tính khoa học được áp dụng với bộ đội Trường Sơn ngày ấy. Trên đường hành quân cũng có lúc gặp phải nơi vắt vàng quá nhiều (một loại vắt lớn hơn vắt lá, có màu vàng sẫm, sống dưới mặt đất) thì chúng tôi lại có sáng kiến lấy một nhúm muối hạt, bọc trong một miếng vải và cột vào đầu chiếc đũa hoặc một que tre, nhúng cho ướt nước, vắt bám vào chỗ nào chỉ việc chấm gói muối lên đó là “rụng” hết.

Cũng như bếp “Hoàng Cầm” của anh nuôi, có ai đó đã thiết kế cách mắc võng rất khoa học. Những sáng kiến này đáng được tặng huân chương lắm chứ! Khi mắc võng trên rừng Trường Sơn, nhất thiết hai đầu võng phải có hai cọc phụ. Hai cọc phụ này cao khoảng 1,20m – 1,50m được buộc vào hai cây rừng tự nhiên với khoảng cách lớn hơn hoặc bằng chiều dài chiếc võng (2.50m). Từ hai đầu của hai cọc phụ, buộc hai đầu võng lại với nhau. Bên trên căng sợi dây và lợp một tấm ni lông theo hình mái nhà. Như vậy nếu trời mưa nước sẽ theo hai cây rừng tự nhiên chảy xuống đất, không bao giờ bị ướt võng. Ở bốn góc của tấm ni lông, thường được buộc với các cây tự nhiên xung quanh bởi bốn dây thun (dây cao su) có độ co dãn, để khi trời mưa có kèm theo gió thì ni lông không bị giật rách. Buộc dây võng, làm giá để ba lô cũng như “một môn khoa học” mà mọi người từ chỉ huy đến chiến sĩ đều phải thành thạo. Buộc sao cho khi báo động hành quân, hoặc sáng hôm sau thức dậy, chỉ cần rút nhẹ đầu dây là lấy được võng ra khỏi cọc phụ để xếp vào ba lô được dễ dàng và nhanh chóng. Với các thế hệ ngày nay, dù trang bị có tối tân, hiện đại đến mấy, thiết nghĩ cũng nên cho bộ đội “đi” lại những nội dung động tác cơ bản mà các thế hệ đi trước đã từng làm, như đào bếp Hoàng Cầm, động tác mắc võng, làm giá để ba lô, giá để súng, đóng quân dã ngoại trong rừng, v.v...

Mọi công việc, sau khi hành quân đến trạm giao liên phải xong trước 21 giờ (càng sớm càng tốt) để giành thời gian cho bộ đội ngủ, nghỉ. Ấy thế mà nhiều lúc nằm xuống võng chưa được bao lâu thì trời đã sáng. Lại bắt đầu một ngày trèo đèo, lội suối tiếp tục hành quân. Cứ thế, chúng tôi đi mãi, đi mãi; ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác. Bao nhiêu kỷ niệm về người thân, quê hương, bạn bè, đều lùi vào quên lãng. Chúng tôi luôn hướng về phía trước.

Bộ đội chúng ta phải chịu đựng biết bao vất vả, gian nan trên đường Trường Sơn ngày ấy. Anh em hy sinh trên con đường này, có người do sốt rét ác tính mà thuốc men thì đã cạn; có người bị chết đuối do mưa lũ, vượt sông, có đêm đang ngủ trên võng bị cây đổ đè lên; hoặc có người chết vì bị rắn cắn, hổ vồ, hay chết vì ăn phải nấm độc... Không sao kể xiết những trường hợp thương tâm. Chưa nói đến những lúc hy sinh do đạn pháo, máy bay hay bị địch phục kích dọc đường. Nhân đọc cuốn nhật ký của anh hùng, liệt sỹ - bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm, tôi thật sự cảm phục trước tinh thần vượt khó khăn, gian khổ của chị. Những người đã trải qua những tháng ngày vượt Trường Sơn và chiến đấu trên chiến trường ác liệt - như chị viết “Cái chết ở đây còn dễ hơn ăn một bữa cơm!...”. Chị rất xứng đáng là người anh hùng. Chúng tôi, những người lính của sư đoàn Sao Vàng, đã từng chiến đấu bên cạnh chị trong những năm tháng cực kỳ gian khổ, ác liệt trên chiến trường Khu 5 nói chung, mặt trận Bắc Bình Định - Nam Quảng Ngãi nói riêng, nên rất thấm thía những điều chị viết.

Xin được trở lại theo bước chân của những người lính vượt Trường Sơn năm xưa.

Về lương thực, do được giáo dục kỹ, nên dù bị đói, nhưng chúng tôi không hề động đến nương rẫy, hoa màu của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Câu thơ sau đây nói lên tâm trạng một vài anh lính khi không vượt qua được sự thiếu thốn:

Tà tà chân bước vào nương,
Tay ôm quả bí, lòng thương đồng bào!


Câu thơ đọc lên thoáng nghe thấy thật buồn cười, nhưng ngẫm lại thì cũng thật cảm động.

Đồng bào các dân tộc của chúng ta thiếu thốn đủ thứ, nhất là thiếu muối. Còn bộ đội chúng tôi thì lại thiếu thực phẩm. Do đó đã nảy sinh ra việc trao đổi qua lại giữa bộ đội và đồng bào các dân tộc trên dọc đường hành quân. Chúng tôi đổi muối hoặc một số tư trang lấy thực phẩm như heo, gà, bầu, bí... những thứ mà đồng bào nuôi được, trồng được. Vì vậy mà có bài thơ “Đi đổi” - có đoạn viết:

... Ngang lưng thì thắt bi đông
Đầu đội mũ cối, tay cầm gậy tre.
Vội vàng chân bước, tai nghe,
Ở đâu gà gáy te te thì vào.


Đi đường vất vả, mệt mỏi là thế, nhưng ai cũng vui vẻ, yêu đời. Đi đến đâu cũng có thể, tức cảnh, sinh tình, xuất khẩu thành thơ. Vui buồn cũng làm thơ, gian khổ vất vả cũng làm thơ. Với khí thế của đoàn quân ra trận, tuổi trẻ chúng tôi hồi đó, xem cái chết “nhẹ tựa lông hồng”.

Thỉnh thoảng trong đơn vị có anh em đau yếu, người trong trung đội, tiểu đội liền san sẻ, chia nhau mang giúp các trang bị. Hoặc có ai đó đi không nổi, chúng tôi thay nhau khiêng, cáng đến trạm giao liên gửi lại dưỡng sức và tổ chức thu dung theo sau. Tình cảm thương yêu, tương trợ nhau như anh em ruột thịt. Đó cũng là hình ảnh đẹp đẽ của tình đồng chí, đồng đội để lại ấn tượng sâu đậm đối với những ai đã từng vượt Trường Sơn.

Nhưng ngoài việc chịu đựng gian khổ, mưa dầm gió bấc, lội suối trèo đèo, ấn tượng để lại trong chúng tôi là cảnh đẹp hùng vĩ của núi rừng Trường Sơn. Gió thổi ù ù, lá cây bay xào xạc. Nước từ trên thác cao đổ xuống ầm ầm cộng với tiếng chim kêu, vượn hú... tạo nên một âm thanh sống động từ ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác, không bao giờ dứt. Khí thế của đoàn quân, cùng với vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên khiến cho những người lính trẻ lúc bấy giờ có những nỗi niềm khó tả... Những đêm trăng sáng, mắc võng ở suối đá, trên sườn núi cheo leo, chúng tôi say sưa ngắm ánh trăng xuyên qua những kẽ lá. Mùi hương hoa lan tỏa khắp núi rừng, dưới ánh trăng lấp lánh. Có lẽ không một nét bút của họa sĩ hay nhà văn nào có thể nói hết được.

Trăng treo trên đầu võng
Suối thì thầm dưới lưng.


Những bản nhạc của núi rừng thiên nhiên đã đưa tôi vào giấc ngủ lúc nào không biết.

Trên đường đi, kỷ luật hành quân là yếu tố được chú trọng nhất. Chẳng hạn như khi đang đi, nếu hết nước phải chịu nhịn khát, cố gắng đến trạm uống nước đun sôi, chứ không được uống nước suối dọc đường, đề phòng bị đau bụng, tiêu chảy. Có anh khát quá, chịu không nổi giả bộ té (ngã) xuống suối để hớp ngụm nước lạnh thì tối hôm đó bị đưa ra cuộc họp kiểm điểm. Đến chỗ dừng chân, nghỉ giải lao, tiểu đội trường, hoặc trung đội trưởng cho phép uống bao nhiêu lượng nước - chẳng hạn 2 nắp bi đông - mọi người tự giác uống theo quy định, mặc dù là nước của riêng mình. Vì vậy, đi suốt ngày như thế, khi đến trạm nghỉ, mọi người vẫn còn nước trong bi đông, sức khỏe vẫn giữ vững. Đại đội chúng tôi có 150 người. Ngoại trừ trung đội 30 người của đồng chí Thái Hiền Vỹ đi trước, còn lại 120 người vượt Trường Sơn đến điểm tập kết được an toàn và khỏe mạnh. Đó là kết quả của công tác Đảng - công tác chính trị trong hành quân được cán bộ các cấp quan tâm đúng mức.

Cuộc hành quân cứ thế tiếp diễn. Khoảng cách đến các mặt trận ngày càng được rút ngắn. Hậu phương miền Bắc càng ngày càng lùi xa. Đâu đây đã nghe tiếng rì rầm của máy bay, đại bác của địch vọng lại. Chúng tôi vẫn cứ âm thầm, bí mật tiến lên phía trước.

Khi vào tới các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, cuộc sống của chúng tôi càng thiếu thốn, khó khăn nhiều mặt. Nhiều đơn vị vào sâu trong các tỉnh Nam Bộ, miền Đông Nam Bộ, giáp với biên giới Campuchia, cuộc sống còn khó khăn bội phần. Địch tăng cường đánh phá ác liệt. Chúng tung lực lượng vào các vùng giải phóng càn quét, dồn dân, lập các ấp chiến lược, tạo nên những vành đai trắng giữa vùng đồng bằng với rừng núi và xung quanh các đô thị để cắt đứt nguồn tiếp tế của quân ta. Ở trên rừng, máy bay B52 ném bom “rải thảm”, máy bay C130 rải chất độc hóa học và bắn phá những nơi nghi có bộ đội chủ lực của ta tập kết. Ban ngày, khi vượt qua những bãi trống, bộ đội phải lấy lá rừng cắm vào ba lô để ngụy trang, che mắt máy bay địch. Ở những cung đường gần bót địch hoặc có thám báo, biệt kích hoạt động, chúng tôi phải đi đêm. Nguyên tắc hành quân ban đêm là người đi sau phải bám sát người đi trước. Khi truyền lệnh thường thì từ trước ra sau. Trường hợp đang đi mà phía trước có sự cố thì đội hình phải dừng lại. Người đi sau nắm lấy ba lô hoặc cành ngụy trang cắm trên ba lô của người đi trước, để khi người phía trước đi tiếp, người đi sau biết mà bước theo. Do vậy mà có khi đã xảy ra trường hợp nhầm lẫn. Thay vì cầm lấy cành cây ngụy trang trên ba lô của người đi trước thì người đi sau lại cầm nhầm cành cây bên đường. Đến khi phát hiện ra thì đội hình đã đi xa từ lâu. Lực lượng phía sau phải ngồi tại chỗ để chờ giao liên quay lại đưa lên, nếu không sẽ bị lạc đường. Đó là những tình huống trớ trêu thường gặp và cười ra nước mắt. Cũng do những tình huống như thế này mà có lúc phải trả giá đắt - sau này tôi sẽ có dịp đề cập đến.

Sau hai tháng hành quân, đầu tháng 5-1965, đơn vị chúng tôi đã vào đến địa phận tỉnh Đắc Lắc thuộc cao nguyên trung phần, chiến trường Liên khu 5. Đây là thắng lợi bước đầu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong cuộc trường chinh đi đánh Mỹ của đơn vị chúng tôi. Đơn giản là chúng tôi đã vượt qua được chặng đường dài đầy chông gai, ghềnh thác, đến đích an toàn, đầy đủ về người và vũ khí. Những năm đầu cuộc chiến tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ ở miền Nam đầy khó khăn gian khổ, đưa được một khẩu súng, một viên đạn vào được chiến trường đã là quý; đưa được một con người, một đơn vị vào chiến đấu lại càng quý biết bao. Có thể nói, đây là một kỳ công trong chỉ đạo chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Cho đến nay, nghĩ lại cuộc hành quân vượt Trường Sơn ngày ấy, tôi vẫn cảm thấy niềm tự hào với chính mình.

Trước khi bổ sung cho các chiến trường, các mặt trận, chúng tôi được nghe đại diện của Liên khu 5 và tỉnh Đắc Lắc phổ biến, quán triệt tình hình mọi mặt của địa phương, như tình hình địch, tình hình về kinh tế, chính trị của ta, tình hình phát triển lực lượng bộ đội địa phương, dân quân du kích. Đồng chí đại diện cho quân khu 5 nói đại thể: “Quân và dân Liên khu 5 mong chờ các đồng chí đã lâu. Các đồng chí đã vào thật đúng lúc. Lực lượng bộ đội địa phương và anh chị em dân quân du kích chúng tôi sẽ sát cánh cùng các đồng chí chiến đấu, cùng với toàn quân, toàn dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ Quốc!”.

Chúng tôi là quân chủ lực, từ miền Bắc mới vào, mọi cái ở đây đều hoàn toàn xa lạ. Do đó, đồng chí đại diện của địa phương nói nhiều về những phong tục, tập quán của nhân dân các dân tộc Tây nguyên và vùng đồng bằng Liên khu 5. Ngoài ra các đồng chí còn nói những thuận lợi về kinh tế - chính trị, về phong trào đấu tranh của nhân dân trong các vùng địch tạm chiếm và sự lớn mạnh không ngừng của hai lực lượng là bộ đội địa phương và dân quân du kích Liên khu 5 nói chung và vùng Tây Nguyên nói riêng. Các đồng chí còn cho biết về những âm mưu, thủ đoạn của địch trong chính sách dồn dân, lập ấp chiến lược, hệ thống các đồn bót, kìm kẹp của địch và chủ trương các hoạt động phối hợp giữa ba thứ quân trong quá trình tác chiến trên địa bàn quân khu. Có lúc đồng chí nói những câu hài hước, dí dỏm: “Chị em ở đây rất thương mến các anh bộ đội miền Bắc xa nhà. Có cô cũng đã nói một cách “mạnh bạo” rằng: “Anh hãy đổ nước” vô đây cho em!”.

Tất cả chúng tôi đều cười và có phần mắc cỡ...

Đại đội chúng tôi vẫn được giữ nguyên là một đại đội công binh. Khi Sư đoàn bộ binh số 3 còn gọi là sư đoàn Sao Vàng được thành lập, đại đội chính thức nằm trong biên chế của Sư đoàn 3 Quân khu 5. Đại đội trưởng và chính trị viên của đại đội vẫn chiến đấu bên cạnh chúng tôi cho đến những năm sau đó.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn