Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

VỸ TUYẾN 17 VÀ NHỮNG CÔ GÁI

Bắc Ninh21/05/2026HOÀNG VĂN TUẤN3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1968. Dòng sông Bến Hải mùa ấy đỏ quạch phù sa sau những trận mưa rừng kéo dài. Hai bên bờ, cỏ lau cháy xém bởi bom đạn. Chiếc cầu Hiền Lương gầy guộc như một chứng nhân già nua đứng giữa tiếng đại bác vọng về từ phía nam. Vĩ tuyến 17 — nơi chia cắt đất nước — ngày đêm chìm trong khói lửa. Ở một làng nhỏ ven sông thuộc huyện Vĩnh Linh, có ba cô gái thanh niên xung phong nổi tiếng gan dạ: Lan, Hòa và Nguyệt. Người dân quanh vùng thường gọi họ là “ba bông lau trắng của bờ Bến Hải”. Lan lớn tuổi nhất, hai mươi ba tuổi, quê tận Nghệ An. Cha hy sinh ở Điện Biên, mẹ mất sớm vì bệnh. Cô vào chiến trường với một chiếc khăn tay cũ và cuốn sổ nhỏ luôn ép trong túi áo. Hòa nhỏ con, da ngăm đen, nói cười như nắng. Cô từng học dở lớp y tá nhưng bỏ trường để vào tuyến lửa. Ai bị sốt rét hay thương tích đều tìm đến Hòa. Còn Nguyệt mới mười chín tuổi, trẻ nhất đội. Đôi mắt trong veo và giọng hát ngọt như gió đồng quê khiến cả đơn vị yêu quý. Đơn vị của họ làm nhiệm vụ tải đạn, dẫn đường và vá đường trên tuyến giao liên gần vĩ tuyến 17. Công việc nguy hiểm nhất là ban đêm băng qua trọng điểm bom tọa độ để đưa hàng vào chiến trường miền Nam. Đêm nào cũng vậy, từ phía biển Đông vọng vào tiếng tàu chiến gầm rú. Trên trời, pháo sáng rơi như những vệt sao chết. Một tối cuối tháng bảy, đơn vị nhận lệnh khẩn. Con đường độc đạo dẫn vào kho hậu cần vừa bị bom đánh sập. Nếu không sửa ngay, đoàn xe chi viện cho chiến trường Trị - Thiên sẽ mắc kẹt. Đại đội trưởng nói: – Ai xung phong vào trọng điểm? Chưa dứt lời, Lan đã bước lên. – Tiểu đội chúng tôi đi. Hòa và Nguyệt đứng cạnh, không ai chần chừ. Khoảng nửa đêm, ba cô gái cùng mấy chiến sĩ công binh men theo triền đồi tới đoạn đường bị bom cày nát. Đất đá ngổn ngang, hố bom sâu như miệng giếng. Trên đầu họ, máy bay trinh sát vo ve. Lan quỳ xuống dùng tay moi từng tảng đá. – Phải thông đường trước sáng. Mồ hôi hòa lẫn bùn đất trên gương mặt cô. Nguyệt vừa chuyển đất vừa khe khẽ hát để át tiếng bom xa: “Câu hò bên bờ Hiền Lương…” Giọng hát non trẻ giữa chiến trường khiến những người lính đang đào đất cũng lặng đi. Bất ngờ. Một tiếng rít xé trời. Lan hét lớn: – Nằm xuống! Bom nổ chát chúa ngay mép đường. Đất đá tung lên như bão. Hòa bị sức ép hất văng xuống hố bom, cánh tay rớm máu. Khói bụi chưa tan, Lan đã lao xuống kéo bạn lên. – Có sao không? Hòa cắn răng: – Chưa chết được đâu. Rồi cô lại tiếp tục xúc đất như chưa có chuyện gì xảy ra. Đến gần sáng, con đường cuối cùng cũng được san phẳng. Từ xa, tiếng động cơ xe vận tải vang lên. Cả đơn vị chưa kịp mừng thì pháo sáng bỗng phụt lên trắng trời. Máy bay địch quay lại. Tiếng đại liên quét dữ dội dọc con đường. Nguyệt đang chạy chuyển cuốc xẻng cho tổ bên kia thì khựng lại. Một mảnh bom cắt ngang vai cô. Máu thấm đỏ chiếc áo thanh niên xung phong. Lan lao tới đỡ em: – Nguyệt! Nguyệt tái mặt nhưng vẫn cười: – Chị đừng lo… đường thông rồi… Hòa vội xé băng cá nhân buộc vết thương cho bạn. Nhưng máy bay vẫn bổ nhào. Không còn cách nào khác, cả ba phải dìu nhau xuống hầm trú cạnh bờ suối. Trong bóng tối chật hẹp, tiếng bom dội liên hồi như muốn nghiền nát mặt đất. Nguyệt tựa đầu vào vai Lan, giọng run run: – Không biết đến bao giờ đất nước mới thống nhất hả chị? Lan im lặng hồi lâu rồi đáp: – Rồi sẽ có ngày mình đi qua cầu Hiền Lương mà không còn giới tuyến nữa. Nguyệt mỉm cười yếu ớt. – Lúc ấy… em muốn được mặc áo dài trắng… đi dọc bờ sông… Hòa khẽ nắm tay cô. Ngoài kia, bom vẫn nổ. Nhưng trong căn hầm nhỏ, ba cô gái ôm lấy nhau như chị em ruột thịt. Những ngày sau đó, chiến sự ở vĩ tuyến 17 càng khốc liệt. Bom Mỹ đánh phá liên tục vào các bến phà, kho hàng và tuyến giao liên. Ban ngày mặt đất rung chuyển, ban đêm bầu trời đỏ rực lửa đạn. Tiểu đội của Lan gần như không có đêm nào ngủ trọn. Có hôm vừa vá xong mặt đường, máy bay lại tới đánh sập. Họ lại đào, lại lấp, lại chuyển từng bao đất dưới mưa bom. Người dân Vĩnh Linh thương các cô gái như con cháu trong nhà. Một bà mẹ già thường đem cho họ nắm khoai luộc nóng hổi rồi bảo: – Các con ráng giữ mình. Đất nước rồi sẽ yên bình. Nguyệt thích nhất là những lúc hiếm hoi được ngồi bên bờ sông Bến Hải nghe tiếng nước chảy. Cô thường lấy trong túi ra chiếc harmonica nhỏ thổi những giai điệu quê hương. Một lần, Lan hỏi: – Em có người yêu chưa? Nguyệt đỏ mặt: – Có anh bộ đội ngoài đảo Cồn Cỏ viết thư cho em. – Thế sao chưa thấy thư? Nguyệt cười buồn: – Anh ấy hy sinh tháng trước rồi… Không khí chợt lặng đi. Lan nhìn dòng sông đen sẫm trước mặt, nghe lòng mình thắt lại. Chiến tranh đã lấy đi quá nhiều tuổi trẻ. Đầu năm 1969, đơn vị nhận nhiệm vụ đặc biệt. Một đoàn cán bộ cấp cao cần vượt qua tuyến lửa vào chiến trường miền Nam. Tiểu đội của Lan phải dẫn đường xuyên qua vùng bom tọa độ. Đêm ấy trời mưa tầm tã. Cả đoàn men theo triền núi trong bóng tối đặc quánh. Địch thả pháo sáng trắng lóa liên tục. Lan đi đầu dò đường. Hòa mang túi cứu thương phía sau. Nguyệt dìu một cán bộ bị sốt rét nặng. Khi đoàn tới gần ngầm đá qua suối, tiếng máy bay bất ngờ xuất hiện. Ánh đèn từ trên cao quét xuống như lưỡi dao. Lan hét khẽ: – Tất cả xuống hầm! Nhưng đã quá muộn. Bom trút xuống mặt suối. Nước và đất đá bắn tung trời. Một thân cây lớn đổ sập chắn ngang đường rút. Trong tiếng hỗn loạn, Nguyệt phát hiện một cán bộ bị kẹt dưới tảng đá. Cô không chút do dự lao tới. – Chị Lan! Giúp em! Hai cô gái dồn sức nâng tảng đá giữa làn bom rung chuyển. Cuối cùng người cán bộ cũng được kéo ra. Nhưng ngay lúc ấy, một tiếng nổ kinh hoàng vang lên sát mép suối. Lan choáng váng ngã xuống. Khi cô tỉnh lại, trời đã gần sáng. Khói bom còn mù mịt. Hòa đang ôm Nguyệt khóc nấc. Mảnh bom đã găm vào ngực cô gái trẻ. Nguyệt nằm rất yên, đôi mắt vẫn mở nhìn về phía cầu Hiền Lương xa xa. Bàn tay cô còn nắm chặt chiếc harmonica nhỏ. Lan quỳ sụp xuống đất. Suốt nhiều năm trong chiến tranh, cô đã chứng kiến nhiều mất mát. Nhưng lần này, trái tim cô như bị ai bóp nghẹt. Nguyệt ra đi khi mới mười chín tuổi. Người dân ven sông cùng đơn vị chôn cất cô trên ngọn đồi nhìn xuống sông Bến Hải. Họ cắm bên mộ một bó lau trắng. Đêm hôm ấy, Lan ngồi rất lâu bên bờ sông. Tiếng nước chảy hòa với tiếng pháo vọng xa. Hòa khẽ nói: – Nguyệt chưa kịp thấy ngày thống nhất… Lan siết chặt cuốn sổ nhỏ trong tay. – Nhưng nhất định sẽ có ngày đó. Và chúng ta phải sống để kể lại cho mọi người về những cô gái ở vĩ tuyến 17. Bảy năm sau. Mùa xuân 1975. Đất nước hoàn toàn giải phóng. Cầu Hiền Lương rợp cờ đỏ sao vàng. Dòng người từ hai miền đổ về trong nước mắt đoàn tụ. Lan và Hòa trở lại bờ sông năm xưa. Chiến tranh đã lùi xa nhưng những hố bom cũ vẫn còn in dấu trên triền đất. Hai người mang theo một bó hoa trắng tới ngọn đồi nhỏ. Trước mộ Nguyệt, gió sông Bến Hải thổi lao xao những bụi cỏ lau. Lan đặt xuống mộ chiếc áo dài trắng tinh mà ngày xưa Nguyệt từng mơ ước. Cô nghẹn ngào: – Đất nước thống nhất rồi, Nguyệt à… Hòa đứng bên cạnh lặng lẽ khóc. Xa xa, tiếng trẻ con cười vang trên cây cầu không còn chia cắt. Dòng sông Bến Hải hôm nay hiền hòa trôi dưới nắng. Nhưng nơi ấy, người dân vẫn không quên những cô gái thanh niên xung phong đã gửi tuổi xuân mình lại giữa khói lửa vĩ tuyến 17 — những bông lau trắng bất tử của một thời đất nước đau thương mà anh dũng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn