XÃ ÂN THẠNH TRONG THỜI KỲ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1945) ĐẾN NĂM 1950
XÃ ÂN THẠNH TRONG THỜI KỲ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1945) ĐẾN NĂM 1950
Ngày 02/9/1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, đưa nước ta từ một xứ thuộc địa, nửa phong kiến thành một nước độc lập. Sau khi ra đời, nước nhà đứng trước tình thế hết sức hiểm nghèo. Từ vĩ tuyến 17 trở ra, hai mươi vạn quân Tưởng Giới Thạch chiếm đóng, từ vĩ tuyến 17 trở vào do quân Anh chiếm đóng. Núp dưới danh nghĩa quân đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, chúng cấu kết với các tổ chức phản động hòng bóp chết chính quyền cách mạng non trẻ của ta. Đặc biệt quân Anh còn bộc lộ rõ ý đồ dọn đường cho thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta lần nữa. Giữa lúc khó khăn chồng chất, tiềm lực mọi mặt của Nhà nước chưa được củng cố, nền kinh tế vừa bị chiến tranh tàn phá, vừa bị bọn Pháp - Nhật vơ vét cạn kiệt chưa được khắc phục, ngân sách Nhà nước trống rỗng, trên 90% dân số không biết chữ, các tệ nạn cờ bạc, rượu chè, nghiện hút, mê tín dị đoan… còn phổ biến. Những khó khăn đó đặt đất nước ta trong tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”.
Để bảo vệ và phát huy thành quả của Cách mạng Tháng Tám, một trong những nhiệm vụ đầu tiên mà Chính phủ xác định là mở cuộc Tổng tuyển cử, thành lập Chính phủ chính thức, xây dựng hệ thống chính quyền hợp pháp từ Trung ương đến địa phương. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tổ chức cuộc Tổng tuyển cử theo chế độ phổ thông đầu phiếu. Người nói: "Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân gái trai mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống...". Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" (25/11/1945) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đề ra 4 nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân. Trong bốn nhiệm vụ ấy, nhiệm vụ bao trùm là củng cố chính quyền dân chủ nhân dân.
Cũng như cả nước, tỉnh và huyện, sau Cách mạng tháng Tám Ân Thạnh cũng gặp muôn vàn khó khăn. Là vùng đất sản xuất nông nghiệp nhưng không được sự ưu đãi của thiên nhiên, đất đai khô cằn, hạn hán và bão lụt thường xuyên xảy ra. Các ngành nghề thủ công truyền thống vẫn được duy trì, song chỉ mang tính tự phục vụ là chính. Mặt khác, do chế độ phong kiến duy trì lâu, đặc biệt là sự bóc lột của phát xít Nhật và thực dân Pháp trong những năm 1940-1945 đã làm cho đời sống của nhân dân địa phương vô cùng cực khổ. Những tàn tích của chế độ cũ để lại nặng nề không thể khắc phục trong chốc lát, tình hình an ninh trật tự chưa được ổn định…
Tỉnh Bình Định, huyện Hoài Ân không nằm trong vùng quân Anh và quân Tưởng đến giải giáp song ở Quy Nhơn vẫn còn một đơn vị lính Nhật đóng lại và luôn lăm le chống lại chính quyền cách mạng.
Dù phải đối phó với nhiều khó khăn song ở địa phương cũng có những thuận lợi cơ bản. Bởi vì nhân dân đã giành được quyền làm chủ và bước đầu được hưởng những quyền lợi do cách mạng đem lại nên rất phấn khởi, tin tưởng vào chế độ mới, một lòng tin tưởng và đi theo Mặt trận Việt Minh, Chính phủ và Hồ Chí Minh.
Dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, Ủy ban hành chính các làng, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể cứu quốc thường xuyên tổ chức các nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc, khắc phục những khó khăn, nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân
Chào mừng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám - 1945, chính quyền cách mạng lâm thời các làng đã vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia cuộc diễu hành, mít tinh ngay tại địa phương mình cũng như ở những nơi khác do cấp trên tổ chức. Qua những cuộc mít tinh này, nhân dân đã trực tiếp chứng kiến lễ ra mắt của bộ máy chính quyền cách mạng các cấp; đồng thời giúp họ biết được tình hình chung của quê hương đất nước, hiểu rõ những chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ lúc bấy giờ, từ đó có ý thức đề cao cảnh giác, chống lại âm mưu chia rẽ, phá hoại của kẻ thù, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, cùng nhau bắt tay thực hiện mọi nhiệm vụ của Đảng và cách mạng.
Ngày 23/9/1945 quân Pháp nổ súng tấn công Sài gòn, mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Để ủng hộ phong trào đánh Pháp của nhân dân Nam bộ, chính quyền cách mạng đã tổ chức nhiều cuộc mít tinh, biểu tình rầm rộ khắp mọi thôn xóm phản đối thực dân Pháp xâm lược, các đoàn thể quần chúng tích cực vận động nhân dân quyên góp tiền bạc, quần áo, thuốc men gửi vào Nam; đồng thời động viên con cháu lên đường tòng quân giết giặc, cứu nước.
Đáp ứng Lời kêu gọi cứu đói (28/9/1945) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân địa phương đã đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Ở địa phương kinh tế nông nghiệp là chính, có trên 95% hộ làm nghề nông. Dưới chế độ thực dân- phong kiến 40% nông dân không có ruộng để canh tác. Giờ đây người dân được làm chủ quê hương làm chủ ruộng đất nên rất phấn khởi đẩy mạnh tăng gia sản xuất với tinh thần “không một tấc đất bỏ hoang, tấc đất tấc vàng”, "tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất!”. Phong trào thi đua sản xuất được dấy lên ở khắp các thôn. Diện tích hoang hoá được nhanh chóng khai hoang, đưa vào gieo trồng các loại cây lương thực và hoa màu. Nhân dân hăng hái tu bổ các đập nước, mương máng để dẫn nước vào đồng ruộng và làm thêm vụ lúa tứ quý để nâng cao sản lượng nông nghiệp.
Chính quyền cách mạng đã nhanh chóng xoá bỏ các thứ thuế bất công như: thuế thân, thuế đò, thuế chợ và thực hiện giảm tô, giảm tức, xoá nợ lâu đời của nông dân với địa chủ và phú nông. Những ruộng vắng chủ, ruộng tự đình, lộc điền, ruộng bao chiếm, bao tá của cường hào ác bá đều bị tịch thu và chia lại cho nông dân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ, dân chính cư hay ngụ cư.
Cùng với phong trào tăng gia, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp tạo ra nhiều lương thực, thực phẩm giải quyết nạn đói, các ngành nghề thủ công truyền thống cũng được chú trọng khôi phục phát triển. Mặt trận và các đoàn thể quần chúng đã động viên mọi người hưởng ứng cuộc vận động thực hành tiết kiệm, nhường cơm sẻ áo bằng những việc làm cụ thể, như không dùng gạo để nấu rượu, tráng bánh, mỗi gia đình đều có hũ gạo tiết kiệm, hũ gạo nuôi quân, thực hiện ăn cháo vào mỗi chiều thứ 7 hàng tuần... Số gạo thu được hàng tháng đã kịp thời chuyển lên huyện, tỉnh để đưa ra miền Bắc ủng hộ đồng bào đang bị lũ lụt và thiếu đói.
Nhằm giải quyết khó khăn về tài chính, nhân dân địa phương hăng hái tham gia vào “Quỹ độc lập”, “Quỹ ủng hộ Nam bộ kháng chiến”, “Tuần lễ vàng”, “Tuần lễ đồng”. Riêng Tuần lễ vàng từ ngày 17 - 24/9/1945 nhân dân địa phương không kể giàu nghèo, không phân biệt tôn giáo đều nô nức hưởng ứng đã quyên góp được hơn chục lượng vàng và hàng tấn đồng. Tuy của cải vật chất chưa nhiều, nhưng những tấm lòng, hành động ủng hộ của người dân Ân Thạnh lúc bấy giờ thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc.
Với những cố gắng của nhân dân và chính quyền địa phương, đến cuối năm 1946 tình hình sản xuất và đời sống vật chất của các tầng lớp nhân dân đã cơ bản được ổn định. Số lượng lương thực ở địa phương không chỉ đủ ăn, mà còn có để dự trữ và đóng góp vào quỹ nuôi quân. Ngoài ra trong thời gian này, cán bộ và nhân dân các thôn An Thường, Thế Thạnh, Phú Văn và Hội An còn tiếp nhận và chăm lo hàng trăm đồng bào tản cư của các tỉnh bạn, như Phú Yên, Quảng Nam, Gia Lai, Kon Tum. Địa phương thành lập Ban đón tiếp tản cư, tiến hành vận động bà con nhường cơm sẻ áo, xây dựng lán trại đảm bảo chỗ ở, tìm việc làm và chia ruộng đất công cho đồng bào tản cư.
Việc xoá nạn mũ chữ và nâng cao dân trí cho nhân dân là một trong những nhiệm vụ cấp bách đã được nêu lên trong phiên họp đầu của Hội đồng Chính phủ (03/9/1945). Ngày 08/9/1945, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ và kêu gọi toàn dân tham gia xoá nạn mù chữ. Theo đó, mạng lưới trường học được mở rộng ở khắp mọi vùng, miền của Tổ quốc.
Ngay từ những ngày đầu, chính quyền địa phương rất chú trọng công tác xoá nạn mù chữ cho toàn dân. Toàn dân khắc phục mọi khó khăn trong học tập, thiếu giấy thì được thay bằng lá chuối khô ép phẳng hoặc đem giấy đã viết ngâm nước vôi để tẩy chữ; thiếu viết, phấn thì được thay bằng than củi, mì lát khô; không đủ giáo viên thì thực hiện theo lời của Hồ Chủ tịch“những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, vợ chưa biết chữ thì chồng bảo, cha mẹ không biết thì con bảo”. Nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng đi học chữ cả các lớp vào buổi trưa, buổi tối ở những nhà rộng hoặc ở đình làng…
Chính quyền cách mạng tuyên truyền, động viên nhân dân tham gia diệt giặc dốt bằng các khẩu hiệu: “tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương diệt giặc dốt”, “ngọn đuốc thiêng”, bình bầu chiến sĩ thi đua diệt giặc dốt. Đồng thời cũng thường xuyên cho cán bộ chặn đường đố chữ, chặn cổng khi đi xem văn nghệ, đi chợ… Ai trả lời được thì mới cho đi, cho vào xem văn nghệ… Đầu năm 1947, địa phương đã cơ bản thanh toán nạn mù chữ trong nhân dân.
Phong trào xây dựng nếp sống mới, văn minh, lành mạnh được quan tâm phát động. Các tổ chức đoàn thể quần chúng vận động nhân dân xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, bài trừ mê tín dị đoan, như ma chay, bói toán, chữa bệnh bằng bùa phép..., kêu gọi giáo dục nhân dân tinh thần đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau theo khẩu hiệu “lá lành đùm lá rách”.
Công tác vệ sinh phòng dịch thường xuyên được phát động. Mỗi tuần các đội thanh thiếu niên, các thôn xóm đều tiến hành tổng vệ sinh, phát quang bụi rậm, lấp hố nước, diệt ruồi muỗi, quét dọn đường sá. Nhân dân hưởng ứng làm 3 công trình vệ sinh: cầu tiêu, nhà tắm, giếng nước.
Cuối năm 1945, mặt trận và chính quyền Hoài Ân phát động phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến. Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình được tổ chức để phản đối thực dân Pháp xâm lược, khơi dậy một khí thế cách mạng sục sôi hướng về Nam Bộ. Các đoàn thể Phụ nữ, Thanh niên, Phụ lão,…quyên góp thuốc men, chăn màn, quần áo, tiền bạc,… gửi vào Nam và vận động chồng con, anh em lên đường tòng quân giết giặc, cứu nước. Hàng chục thanh niên xung phong gia nhập vào các đoàn quân “Nam tiến”. Phong trào ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến đã biểu thị quyết tâm của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc.
Thực hiện khẩu hiệu “mỗi làng xóm là một pháo đài”, “mỗi người dân là một chiến sĩ” cùng với toàn huyện, nhân dân địa phương đã tích cực xây dựng lực lượng vũ trang và đã xây dựng được 3 trung đội nam-nữ dân quân du kích.
Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, sau khi đi thị sát tình hình ở các chiến trường của Khu V, Khu ủy chọn xóm 3, thôn Thế Thạnh làm nơi xây dựng căn cứ. Căn cứ Khu ủy Khu V tọa lạc trên thửa đất rộng 3.000 m2 tại nhà ông Nguyễn Trọng Phủ (Xã Sáu). Tại đây, lãnh đạo Khu ủy cũng như đại diện Đảng và Chính phủ tại Nam Trung bộ đã có những cuộc họp quyết định những vấn đề quan trọng để lãnh đạo nhân dân Liên khu V kháng chiến chống thực dân Pháp. Đồng chí Phạm Văn Đồng, đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ tại miền Nam Trung bộ đã có dịp về làm việc với cơ quan Khu ủy Khu V tại Ân Thạnh (khoảng tháng 3/1947) và nói chuyện với mấy ngàn đồng bào trong cuộc mít tinh tại vườn dừa dọc soi An Thường (vườn dừa ông Ngọ).
Lực lượng dân quân có nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn an ninh trật tự thôn xóm và xung kích đi đầu trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Thành phần tham gia các đội tự vệ phần lớn là những thanh niên, trung niên, được tổ chức, quản lý rất chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, thường xuyên luyện tập, đề cao cảnh giác. Vũ khí được trang bị rất thô sơ, mỗi trung đội tự vệ chỉ có một khẩu súng trường và một số quả lựu đạn, còn lại chủ yếu là giáo mác, gậy gộc, dao găm... Trực tiếp quản lý lực lượng tự vệ và lực lượng dân quân này, ở xã có Ban chỉ huy xã đội, còn mỗi thôn có Ban chỉ huy thôn đội.
Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, đặc biệt là Hội Phụ nữ, Hội Mẹ chiến sĩ luôn đi đầu trong công tác vận động quyên góp tiền bạc xây dựng quỹ nuôi quân. Phong trào đón thương binh, bộ đội về làng, động viên nữ thanh niên xung phong lấy chồng thương binh, bộ đội diễn ra sôi nổi.
Bám sát tinh thần chỉ đạo của Trung ương, tỉnh và huyện, địa phương đã nhanh chóng triển khai thực hiện có kết quả các chủ trương của Đảng và Nhà nước, ra sức khắc phục khó khăn, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh. Nhiều cán bộ tích cực tham gia xây dựng quê hương, xây dựng chính quyền cách mạng đã xuất hiện mà tiêu biểu là các đồng chí Hoàng Đàm, Hoàng Ngọc Cảnh, Nguyễn Trọng Phu, Nguyễn Đốc, Nguyễn Hữu…
Ngày 23/12/1945, cùng với cử tri trong huyện và cả tỉnh, cử tri trong xã đã phấn khởi tham gia bỏ phiếu bầu cử Quốc Hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đúng giờ quy định các cử tri ở mỗi thôn xóm, ăn mặc chỉnh tề trong tư thế trang nghiêm, phấn khởi náo nức lần lượt đến các điểm bầu cử để thực hiện quyền công dân của mình, cầm lá phiếu bầu ra những đại biểu xứng đáng đại diện cho lợi ích của dân tộc. Tiếp đến là cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân khóa đầu tiên của tỉnh.
Cuối tháng 03/1946, Hoài Ân giải thể cấp tổng và tiến hành hợp xã lần thứ nhất, toàn huyện có 66 làng gộp lại thành 22 xã. Ở địa phương, làng An Thường chuyển thành xã An Thường; các làng Thế Thạnh, Phú Văn, Hội An hợp nhất thành xã Ái Hữu. Cử tri các xã hợp nhất tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân xã để lập ra Ủy ban hành chính. Đồng thời các cấp tổng bị xoá bỏ và không bầu Hội đồng nhân dân cấp huyện.
Sau một thời gian thành lập, xã An Thường và Ái Hữu tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân trong tháng 6/1946. Hội đồng nhân dân xã An Thường và Ái Hữu đã bầu ra Ủy ban hành chính xã gồm có chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký và đứng đầu các ban ngành như công an, xã đội, kinh tế, văn hóa xã hội...
Ngày 22/7/1946, chi bộ Đảng lâm thời xã An Thường được thành lập. Lúc mới thành lập, chi bộ có 03 đồng chí: Trần Đình Châu (Huyện ủy tăng cường về), Hoàng Đàm và Hoàng Ngọc Cảnh. Đồng chí Hoàng Ngọc Cảnh được chỉ định làm Bí thư chi bộ xã An Thường, kiêm Chủ nhiệm Việt Minh xã An Thường.
Tiếp đến, ngày 26/7/1946, chi bộ xã Ái Hữu được thành lập, gồm 04 đồng chí: Nguyễn Trọng Phu, Nguyễn Đốc, Nguyễn Hữu Nhuận, Võ Chí. Đồng chí Nguyễn Trọng Phu làm Bí thư chi bộ xã. Đồng chí Nguyễn Hữu Nhuận làm Chủ nhiệm Việt Minh xã.
Tháng 1/1947, tại Hội nghị các Chi bộ Đảng trên địa bàn huyện đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hoài Ân, đánh dấu bước phát triển mới cả về chất và lượng trong phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Hoài Ân.
Đến tháng 9/1947, hai xã An Thường và Ái Hữu hợp nhất thành xã Ân Thạnh. Theo đó hai chi bộ xã cũng được hợp nhất thành chi bộ xã Ân Thạnh. Đồng chí Hoàng Ngọc Cảnh làm Bí thư chi bộ xã Ân Thạnh khóa đầu tiên. Việt Minh xã Ân Thạnh do đồng chí Võ Chí làm Chủ nhiệm khoá đầu tiên. Tháng 5/1948, đại hội chi bộ xã Ân Thạnh đã bầu đồng chí Hoàng Luận làm Bí thư chi bộ.
Chi bộ đã vận động đóng góp cổ phần xây dựng xưởng dệt thủ công Mỹ Hoà và làm ruộng để gây quỹ tự túc giải quyết một phần khó khăn về vật chất và chi phí các hoạt động của chi bộ. Đồng chí Tăng Thành, Hồ Dự, Quang Thinh là những cá nhân tiêu biểu đã có nhiều đóng góp cho công tác gây quỹ hoạt động của chi bộ xã.
Ủy ban hành chính xã Ân Thạnh được thành lập do đồng chí Hồ Luận làm Chủ tịch xã. Theo chỉ đạo của Trung ương, bên cạnh Ủy ban hành chính xã còn thành lập Ủy ban quân dân chính. Ủy ban quân dân chính sau đổi thành Ủy ban kháng chiến và Ủy ban ủng hộ kháng chiến. Ủy ban kháng chiến là cơ quan lo công cuộc kháng chiến do đồng chí Nguyễn Hữu Nhuận làm Chủ tịch. Ủy ban ủng hộ kháng chiến làm nhiệm vụ động viên mọi tầng lớp xã hội tham gia và ủng hộ kháng chiến. Đến đầu năm 1948, hai hệ thống Ủy ban hành chính và Ủy ban kháng chiến hợp thành Ủy ban kháng chiến hành chính do đồng chí Nguyễn Hữu Nhuận làm Chủ tịch. Từ năm 1950 trở đi, bộ máy chính quyền được củng cố về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đủ sức đảm đương yêu cầu nhiệm vụ mới. Các kỳ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân khóa tiếp theo đã bầu các đồng chí Tăng Thành, Nguyễn Đốc, Nguyễn Hữu Đến, Lê Lâm lần lượt làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính xã.
Từ khi chính quyền nhân dân thành lập cho đến ngày chuyển quân tập kết, bộ máy chính quyền được cấp uỷ phân công những đồng chí có năng lực sang phụ trách và thông qua tổ chức đảng, đoàn thể, chính quyền để lãnh đạo thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, vai trò chính quyền đã thể hiện được chức năng là công cụ sắc bén của Đảng trong mọi mặt công tác.
Bên cạnh Ủy ban hành chính, trong thời gian này xã Ân Thạnh có tổ chức Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể quần chúng như: Đoàn Thanh Niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Phụ lão... Năm 1946, thực hiện chủ trương của trên, địa phương còn thành lập Hội Liên hiệp quốc dân, nhằm tập hợp những đối tượng chưa có điều kiện tham gia Mặt trận Việt Minh.
Từ năm 1947, đồng chí Võ Chí được bầu làm chủ nhiệm Việt Minh xã Ân Thạnh. Đến năm 1951, trong cả nước Mặt trận Việt Minh thống nhất với Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam lấy tên là Mặt trận Liên Việt. Lúc này đồng chí Hoàng Ân được bầu làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt xã. Các đoàn thể cứu quốc gồm có: Hội nông dân cứu quốc do đồng chí Hồ Chỉnh làm Hội trưởng. Đoàn Thanh niên cứu quốc xã do đồng chí Lê Tồn làm Bí thư. Hội Phụ nữ cứu quốc do đồng chí Nguyễn Thị Phú làm Hội trưởng.
Từ năm 1946 - 1947, Ân Thạnh tích cực triển khai thực hiện “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” của Trung ương. Thực hiện chủ trương "phá hoại để kháng chiến" của cấp trên, đầu năm 1947, cán bộ và chính quyền cách mạng ở Ân Thạnh đã tổ chức cho mọi người dân học tập, nhận thức đúng đắn về công tác này. Trước hết, phải giúp cho họ hiểu rõ "Vì sao phải phá hoại, phá hoại cái gì và phá hoại như thế nào?...", từ đó mới vận động tập hợp mọi người dân tích cực tham gia. Trong thời gian này, quân và dân trong xã tích cực tham gia cùng với toàn quân và dân Bình Định phá các công trình kiên trúc kiên cố, không cho giặc Pháp lợi dụng làm căn cứ đóng quân. Ở xã, trường tiểu học, bệnh xá An Thường, một số đền miếu cũng đều bị phá hủy.
Cùng với "phá hoại để kháng chiến" thì công tác "bố phòng" chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài và sẵn sàng đánh trả những cuộc hành quân lấn chiếm đất đai của giặc Pháp được cán bộ chính quyền cách mạng quan tâm. Các con đường liên thôn, liên xóm trên địa bàn của xã được phá hoại từng đoạn, đồng thời nhân dân đã đào hầm, xây dựng các chướng ngại vật, các ụ chiến đấu ở những nơi hiểm yếu trên những con đường đó. Những gò hoang, bãi trống đều cắm cọc phòng không, còn các vùng xung yếu thì cải tạo lại địa hình, có hệ thống giao thông hào, vọng gác. Dọc theo sườn núi, lực lượng dân quân bố trí nhiều hầm trú ẩn, thiết lập những ổ tác chiến liên hoàn để sẵn sàng đánh giặc.
Đầu năm 1948, thi hành chủ trương bố phòng nhân dân của Hội nghị dân quân miền Nam Trung Bộ, địa phương lập kế hoạch sơ tán, thực hiện "vườn không nhà trống", cất dấu hoặc di tản tài sản, lương thực đề phòng địch đổ bộ. Dọc đường đi, bờ ruộng, bờ sông... khắp nơi đều bố trí các hầm cá nhân. Mỗi gia đình đều có hầm chống phi pháo, mỗi xóm đều có giao thông hào để di chuyển qua lại mỗi khi có chiến sự. Tại các đài quan sát, ngày cũng như đêm, mưa bão hay nắng gắt đều có các tổ dân quân thay nhau trực chiến. Những nơi xung yếu đêm đêm có các đội du kích tuần tra cẩn mật.
Thực hiện chủ trương “vườn không nhà trống”, nhân dân Ân Thạnh đã tiến hành cất giấu tài sản, lương thực, đào hầm chông và hầm chữ nhật ở những nơi quy định, thực hiện khẩu hiệu “ba không” (tức không biết, không nghe, không thấy) để phòng gian bảo mật.
Bảo vệ vùng tự do là nhiệm vụ quan trọng được Huyện uỷ triển khai rộng rãi tới các xã về nguy cơ địch đánh phá trong những năm 1948 -1950. Thi hành chủ trương bố phòng nhân dân của Hội nghị dân quân miền Nam Trung bộ đầu năm 1948, hầu hết các xã trong huyện đều lập kế hoạch tác chiến và kế hoạch sơ tán để đề phòng địch đổ bộ. Nhà nào cũng đào hầm trú ẩn, hầm cất dấu lương thực và tài sản. Mỗi người dân đều có ý thức cảnh giác, phòng gian, bảo mật; đối với những người lạ mặt, nếu có hành động khả nghi đều bị quần chúng theo dõi và giám sát chặt chẽ. Từ năm 1948, các cấp uỷ xã và huyện đều phân công một cấp uỷ viên trực tiếp phụ trách cơ quan đơn vị địa phương. Về lực lượng, mỗi xã có một hoặc hai đơn vị du kích tập trung, ngoài ra còn xây dựng nhiều đoàn thể Cứu quốc khác.
Hưởng ứng Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chỉ tịch Hồ Minh (11/6/1948), Ban thi đua của tỉnh, huyện, xã được thành lập. Xã Ân Thạnh phát động đợt thi đua “kháng chiến, kiến quốc” trong 6 tháng cuối năm 1948, lấy thi đua ái quốc làm động cơ tiếp tục thúc đẩy phong trào, các mặt công tác ngày càng đạt kết quả cao hơn. Phong trào thi đua diễn ra sôi nổi trong tất cả các ngành, giới của địa phương thể hiện tinh thần quyết tâm kháng chiến. Tháng 5/1949, xã Ân Thạnh tổ chức Đại hội thi đua yêu nước với khẩu hiệu “Người người thi đua, ngành ngành thi đua, ta nhất định thắng, địch nhất định thua”. Nghị quyết của đại hội được tuyên truyền rộng rãi trong quần chúng đã biến thành hành động trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, chiến đấu, văn hoá xã hội…
Sau Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IV (khoảng tháng 6/1949) là thời kỳ phát triển đảng viên đông đảo trong quần chúng, số lượng đảng viên Chi bộ Ân Thạnh lên đến hàng trăm đồng chí; thành phần đảng viên chủ yếu là bần cố nông, dân quân du kích. Nhưng do nhận thức chưa đúng về chủ trương "Đảng quần chúng đông đảo và mạnh mẽ" nên có xu hướng chạy theo thành tích, chưa nắm chắc tính chất của đảng, hạ thấp tiêu chuẩn đảng viên, nhiều đảng viên chưa hiểu được nội dung cơ bản về lý luận chính trị, nội dung chủ trương, phương pháp cách mạng của đảng. Số lượng tuy đông nhưng chất lượng chưa mạnh. Để khắc phục tình trạng này, thực hiện chủ trương của Huyện ủy, chi bộ xã Ân Thạnh tiến hành hai cuộc vận động: Học tập lý luận và thực tiễn; Tự phê bình và phê bình trong chi bộ. Trong học tập lý luận, lấy giáo dục chính trị, nâng cao trình độ hiểu biết là khâu quan trọng nhất; trong thực tiễn lấy sự gương mẫu của đảng viên trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng làm khâu đầu tàu thúc đẩy. Tài liệu học tập gồm: thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gởi cho đảng viên ở Bắc bộ và Trung bộ, hai cuốn sách “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh và “Sửa đổi lối làm việc” của Hồ Chủ tịch. Trong tự phê bình và phê bình, chi bộ tiến hành tổ chức kiểm thảo để cán bộ, đảng viên góp ý cho từng đảng viên. Qua đó, đã góp phần tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong chi bộ, thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Thi hành Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng (tháng 01/1949) và Sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương (4/1949) của Chính phủ, vào tháng 9/1949 Hoài Ân thành lập một đại đội bộ đội địa phương gồm 123 cán bộ và chiến sĩ do đồng chí Trần Ngộ làm đại đội trưởng. Từ năm 1949 – 1950, Hoài Ân ra sức chấn chỉnh tổ chức, đào tạo và bổ sung cán bộ chỉ huy, phát triển rầm rộ phong trào thi đua “luyện quân lập công” trong toàn Đảng bộ.
Trên mặt trận sản xuất, nhân dân trong xã nêu cao tinh thần “nhà nhà thi đua, người người thi đua”. Trong nông nghiệp, thực hiện mục tiêu “từng huyện tự túc về ăn, mặc”, các bà mẹ, các chị có “con heo nuôi quân” và “bầy gà ủng hộ thương binh”. Thiếu nhi có “con gà kháng chiến”, các cụ già có “cây chuối kháng chiến, bụi mía kháng chiến”.
Hơn 4 năm cùng toàn quốc kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, Ân Thạnh đã giữ vững vùng tự do, duy trì, phát triển các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, đóng góp nhiều công sức cho kháng chiến, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để góp phần cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc chuyển qua giai đoạn tổng phản công.



