Bài viết

xã phú hữu (123)

An Giang16/06/2026xã Phú Hữu (xã Phú Hữu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

VÕ HOÀNH

(1873 - 1946)

Ông Võ Hoành hiệu là Ngọc Tiều, sanh năm 1873 tại làng Thanh Liệt (tục gọi là Quang), thuộc hụyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Thịnh Liệt, huyện Thanh Đàm, thuộc ngoại thành Hà Nội)

Ông là người nhiệt tình yêu nước, coi thường lợi ích cá nhân, từ bỏ cả khoa cử, tham gia các phong trào yêu nước vào đầu thế kỷ XX như Đông du, Duy Tân. Năm 1907, ông cùng một số nhà yêu nước: Nguyễn Quyền, Lương Văn Can và một số vị tâm huyết khác thành lập Đông Kinh nghĩa thục, phỏng theo trường Khánh Ưng nghĩa thục ở Nhựt để truyền bá tư tưởng Duy Tân. Trường đóng tại số 3 đường Hàng Đào, Hà Nội (nhà của Lương Văn Can). Trường không thu học phí mà còn cấp phát tài liệu học tập và giấy, viết cho học sinh. Để có đủ kinh phí cho trường hoạt động, Võ Hoành được giao nhiệm vụ lạc quyên tài chánh, vận động sự tài trợ của các nhà hảo tâm. Trường được sự ủng hộ của đông đảo đồng bào yêu nước, bằng tiền bạc, sách vở, giấy, viết hoặc cho con em đi học và số học sinh lên đến non một ngàn. Hoạt động của trường trở thành phong trào yêu nước sôi nổi. Do đó, chưa đầy một năm hoạt động, trường bị đóng cửa; các yếu nhân của trường đều bị thực dân Pháp bắt và kết án đày đi Côn Đảo vào năm 1909, trong đó có Võ Hoành, Nguyễn Quyền, Lương Văn Can...

Năm 1912, các ông được thả ra; song bị đưa vào Nam an trí, mỗi người cư ngụ một nơi. Lương Văn Can ở Nam Vang, Nguyễn Quyền ở Bến Tre, còn Võ Hoành thì chúng đưa về chỉ định cư trú ở Sa Đéc.

Ông mang gia đình vào ở tại làng Tân Qui Đông, tự sanh sống bằng nghề coi mạch hốt thuốc và dạy chữ Nho, từ chối nhận trợ cấp 10 đồng mỗi tháng của thực dân. Mặc dù, sự đi lại, giao tiếp của ông nhứt nhứt đều có sự giám sát của bọn lính kín, nhưng ông vẫn kín đáo vượt qua, tiếp tục liên hệ, giao tiếp với nhiều nhà yêu nước như Nguyễn Sinh Sắc, Nguyễn Quang Diêu, Lê Văn Đáng.... Với tính khẳng khái, khí phách ngang tàng, cương trực, không hề khuất phục chính quyền thực dân và đám tay sai...làm cho tiếng tăm của ông ngày một vang xa. Chính vì thế, số lượng học trò của ông ngày một đông; nhiều gia đình ở tận Bến Tre, Long Xuyên, Cao Lãnh...vẫn gởi con đến thọ giáo.

Cuộc sống kinh tế có phần khá giả, một phần nhờ bà vợ và con gái tảo tần buôn bán; nên ông tạo được một sở ruộng ở Ba Thê, vừa làm cơ sở kinh doanh, vừa làm nơi cưu mang, tá túc, tài trợ cho những người yêu nước náo thân trong cơn nguy biến.

Ông thường hay tỏ ra bực dọc, phẩn uất, chống đối ra mặt chánh quyền thực dân ở địa phương, ông không đóng thuế thân, nhà ông không chịu treo cờ tam tài (cờ Pháp) trong ngày Quốc khánh Pháp (14-7). Ông có bài thơ bày tỏ tâm sự chán nản, ngao ngán thời cuộc:

Ngao ngán lòng tôi tối lại mai,

Lòng tôi, tôi biết giải cùng ai?

Ngàn năm cố quốc hồn chưa tỉnh,

Hai chữ đồng tâm nét cũng phai!

Mài lệ chép thơ phơi trước mắt,

Coi tiền như mạng bỏ ngòai tai:

Thôi thôi biết nói chi cho hết!

Càng nói càng thêm nổi thở dài.

Nhưng đó là cái dáng bên ngòai, che đậy bên trong cả một bầu nhiệt tình yêu nước. Vào những năm 40, mặc dù tuổi đã cao, nhưng ông vẫn còn tráng kiện, quắc thước, hăng say hoạt động bí mật. Cách mạng Tháng Tám 1945 bùng nổ, chung quanh ông đã có một số thanh niên, học trò tín cẩn cùng ông tham gia khởi nghĩa. Ông bàn giao số thanh niên này cho bà Trần Thị Nhượng (cô giáo Ngài), người lãnh đạo cuộc cướp chánh quyền tại Sa Đéc.

Thực dân Pháp tái chiếm Sadéc, ông theo lực lượng cách mạng rút vào Đồng Tháp Mười, tiếp tục cuộc kháng chiến lâu dài. Do tuổi già, ông qua đời vào tháng 12 năm 1946 và được an táng tại làng Mỹ Hội (Cao Lãnh), nay được cải táng về Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Đồng Tháp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn