Xanh vỏ đỏ lòng
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu của quân và dân ta, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ tháng 7 năm 1954, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến tạm thời và 2 năm sau sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước.
Nhưng với bản chất của một tên sen đầm quốc tế, đế quốc Mỹ hất cẵng thực dân Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam lập nên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm cực kỳ phản động và gian ác, chúng ngang nhiên xóa bỏ Hiệp định và biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ.
Đảng và Bác Hồ đã lường hết được mọi tình huống sẽ xảy ra sau Hiệp định nên một mặt tổ chức cho số cán bộ chủ chốt tập kết ra Bắc để bảo tồn lực lượng chuẩn bị cho chiến lược lâu dài, mặt khác phân công một số đồng chí cán bộ cốt cán của Đảng, của cách mạng ở lại miền Nam rút vào hoạt động bí mật, tiếp tục lãnh đạo ổn định tư tưởng nhân dân và xây dựng cơ sở, củng cố phong trào cách mạng miền Nam.
Trên địa bàn xã Phú Hương, đồng chí Lê Ngư là một trong những người được các đồng chí Hà Đông, Ngô Thanh Quyền, Lê Quang Tập, tin tưởng giao nhiệm vụ. Đồng chí được giao nhiệm vụ khá đặc biệt, đó là phải len lỏi vào trong hàng ngũ của địch, xây dựng cơ sở ngay trong lòng địch để đánh phá địch từ bên trong.
Để tạo vỏ bọc, tạo lòng tin cho bọn Ngụy quyền và bọn chỉ huy trực tiếp, đồng chí tỏ ra hăng hái, xông xáo trong số công việc giản đơn trong đơn vị lính Ngụy. Qua quá trình theo dõi, địch tin tưởng và giao cho đồng chí Lê Ngư làm xạ thủ khẩu trung liên M3. Lợi dụng lòng tin của địch, đồng chí tiến hành tiếp cận tuyên truyền vận động, giáo dục cho số anh em trong trung đội như các anh Trần Bay, Nguyễn Duy Nghĩa, Lê Thiệt, Trần Luật... và với phương châm “vết dầu loang” đã phát triển thêm ra nhiều đối tượng khác. Đến đầu năm 1964, Trung đội nghĩa quân Ngụy đã có 2/3 quân số là người của cách mạng hoặc có cảm tình với cách mạng.
Trong gần 2 năm sống trong lòng địch, các anh đã cung cấp cho đội công tác nhiều thông tin có giá trị như ngày, giờ chúng đi bố ráp, càn quét, thời gian và địa điểm phục kích… Có những lần chúng chủ trương đi tuần đột xuất, không kịp báo tin cho đội công tác, các anh đã mưu trí lợi dụng sự mê tín dị đoan của bọn lính để ngăn chặn âm mưu của chúng như giả vờ lau súng lại cố tình thổi vào nòng súng ngay trước mặt bọn chỉ huy, thế là cuộc tuần tra hôm đó hủy bỏ.
Tình hình ngày càng diễn biến có lợi cho ta, nhiệm vụ các anh được giao cũng nặng nề hơn, táo bạo hơn đó là làm sao lấy cho được vũ khí của địch mà các anh vẫn nằm trong hàng ngũ địch. Khi nhận nhiệm vụ, các anh bàn và nêu ra nhiều phương án nhưng chỉ có một phương án khả thi nhất đó là tập thể làm binh biến, diệt mấy tên chỉ huy ác ôn rồi mang súng về với cách mạng. Nhưng phương án này lãnh đạo thống nhất, yêu cầu các anh phải nằm lại trong lòng địch để tiếp tục nhiệm vụ mang tính chiến lược, chờ thời cơ để hành động. Thế rồi thời cơ cũng xuất hiện, đó là trận lụt lịch sử tháng 11-1964 (tháng 10 năm Giáp Thìn) mở ra cơ hội để thực thi nhiệm vụ.
Sau khi được bọn chỉ huy đồng ý cho anh em lính về giúp gia đình chống lụt, anh Ngư bàn với anh em gom súng lại để anh quản lý. Ban đầu, súng tập trung tại nhà anh Trần Cẩm là đối tượng trung lập trong đơn vị, sau đó thấy không an toàn nên chuyển ra để nhà anh Lê Toàn, cùng đơn vị nhưng là cơ sở nòng cốt của ta. Đến tối ngày 8-11-1964 (nhằm ngày 8-10 Giáp Thìn, anh Ngư cùng đội công tác đến lấy hết gồm: 1 trung liên 3, 2garân M1, 1 tiểu liên Tomxon, 11 súng Carbin và trên 4.000 viên đạn các loại. sau trận này, đồng chí Lê Ngư về hoạt động cách mạng công khai ở vùng giải phóng. Số anh em còn lại bị địch bắt lên quận lỵ Quế Sơn, cạo trọc đầu, giam vào nhà lao, tra tấn nhưng các anh không khai báo chúng đành phải thả ra, nhưng quản thúc bằng cách 1 tuần phải lên quận trình diện 1 lần, cấm đi khỏi địa phương. Trước tình hình đó, các đồng chí Hà Đông, Ngô Thanh Quyền nhất trí để các anh đồng loạt thoát ly gia đình tham gia công tác cách mạng. Trong số đó, có đồng chí tham gia du kích xã, thôn, có đồng chí tham gia bộ đội hoặc tham gia công tác tại địa phương. Trong quá trình chiến đấu, nhiều đồng chí đã anh dũng huy sinh được công nhận liệt sỹ như: Trần Bay, Trần Thái, Trần Luật, Trần Nhơn, Nguyễn Duy Long, Nguyễn Minh, Võ Tiến, Trần Cờ, Lê Toàn, Lê Hiệu, Trần Diên, Phạm Thiệu, đặc biệt đồng chí Lê Thiệt được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và Anh Lê Ngư đã trải qua nhiều cương vị công tác chủ chốt của xã từ Trưởng ban an ninh, xã đội trưởng, Phó chủ tịch, Phó bí thư Đảng ủy v.v…
Sự cống hiến hy sinh của các anh, của một tập thể trong lòng địch là những bông hoa đỏ thắm, tô thêm sự rực rỡ trong vườn hoa cách mạng của quê hương Xuân Phú anh hùng.


