Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

XỬ LÝ MÔI TRƯỜNG SAU CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

Đoạn hồi ký kể về một nhiệm vụ đặc biệt của Ban Quân y tiền phương trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Dưới sự chỉ đạo của các cán bộ quân y như Vũ Văn Cẩn, Từ Giấy và Tôn Thất Tùng, một tổ công tác đã bí mật xây lò nung vôi trong rừng theo kiểu bếp Hoàng Cầm để sản xuất hàng tấn thuốc khử trùng (vôi trộn DDT). Số thuốc này được dùng ngay sau chiến thắng để tẩy uế chiến trường tại khu vực Mường Thanh, Hồng Cúm và dọc sông Nậm Rốm, xử lý ô nhiễm từ hàng nghìn tử thi và chất thải chiến tranh. Câu chuy

Lai Châu09/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hôm nay, tôi xin kể một câu chuyện xảy ra cách đây gần 55 năm trong chiến dịch Điện Biên Phủ, một chiến dịch lẫy lừng với vô vàn khó khăn nhưng cũng biết bao nhiêu niềm vui sáng tạo của những người lính chiến mà lịch sử không bao giờ quên. Câu chuyện tôi kể là một trong biết bao kỳ tích mà hiện nay chưa ai nói hoặc chưa được phép nói tới. Vì không có gì là bí mật ảnh hưởng đến quốc gia nên tôi xin phép được mô tả tỉ mỉ.

Khi chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn, Ban Quân y tiền phương được thành lập để trực tiếp giải quyết nhanh chóng, kịp thời mọi nhu cầu phục vụ cho chiến dịch. Ban Quân y lúc đó thực chất là Cục Quân y thu nhỏ, bởi lẽ nó bao gồm hầu hết các cán bộ chủ chốt của Cục Quân y: Đại tá Cục trưởng Bác sĩ Vũ Văn Cẩn, Cục phó Dược sĩ Vũ Công Thuyết và các vị trưởng phòng chính như đồng chí Bác sĩ Từ Giấy (Phòng Vệ sinh phòng bệnh), Dược sĩ Đặng Hanh Khôi (Phòng Dược chính), Bác sĩ Tôn Thất Tùng (Chủ nhiệm Khối phẫu thuật), v.v... Cứu chữa thương bệnh là nhiệm vụ hàng đầu của Ban Quân y tiền phương.

Vào tháng thứ hai của chiến dịch, cuộc chiến rất ác liệt, quân ta đang chiến đấu với phương châm “Đánh chắc, tiến chắc”. Các đơn vị của quân đội ta đã bám sát vào tận đồn địch bằng các đường hầm. Quân địch và cả quân ta thương vong ngày càng nhiều. Trời mưa liên miên, toàn bộ quân địch phải chui vào đồn hoặc trú xuống hầm để tránh đạn pháo của ta. Nhưng tránh sao được khi các mũi tiến công của ta thay nhau tác chiến 24/24 làm cho quân địch gặp muôn vàn khó khăn. Việc giải quyết các thương bệnh binh không dễ dàng chút nào, cho cả ta và địch, nhất là ở khu Mường Thanh, Hồng Cúm. Địch đã xây những hầm ngầm kiên cố cho Bộ chỉ huy ở thung lũng Mường Thanh, nơi bằng phẳng, xung quanh là đồi núi. Chính vì vậy, khi quân đội ta, bằng cách đào hầm từ trên núi kéo xuống cắt đôi sân bay và khống chế khu vực giữa Mường Thanh và Hồng Cúm, coi như ta đã chiếm được sân bay Mường Thanh bởi máy bay địch không còn khả năng sử dụng sân bay nữa. Chúng chỉ còn cách thả đồ ăn thức uống, quân trang quân dụng trực tiếp xuống nơi đóng quân. Thực tế thì ta cũng được hưởng lợi từ kiểu tiếp tế của địch này. Việc giải quyết thương binh của địch ngày càng trở nên rất nặng nề, đến mức hỗn loạn. Các sĩ quan và lính quân y của địch làm việc trong hoàn cảnh vô cùng tồi tệ, thương bệnh binh nằm dưới hầm, chồng chất lên nhau (hầm 2-3 tầng), dưới nền hầm thì lầy lội, bùn nhão vì nước mưa không có lối thoát. Thương binh bị nhiễm trùng làm cho không khí bị xú uế đến cùng cực. Điều này Bộ chỉ huy của ta biết rất rõ, bởi ta cũng rất khó khăn. Nhưng ta khó khăn một thì địch còn có khó khăn gấp nhiều lần, nhất là thời gian này địch đang ở thế bị bao vây bốn phía, đồng thời các đợt tác chiến của quân ta tiếp tục, liên tục dội vào chúng. Chính vì vậy, Bộ chỉ huy của ta đã có những bước chuẩn bị cho chiến thắng.

Ngày 15 tháng 4 năm 1954, tôi được lệnh bàn giao công việc chính của tôi (phụ trách kho trung tuyến về Dược) cho người khác để lên Ban Quân y tiền phương nhận nhiệm vụ mới. Đồng chí Cục trưởng và Cục phó cùng các đồng chí Từ Giấy, Đặng Hanh Khôi giao cho tôi hai nhiệm vụ phải làm như sau:

Một là, đại diện cho ngành y tham gia vào Ban tiếp quản của Tổng cục Cung cấp (sau này là Tổng cục Hậu cần). Dưới sự chỉ huy của đồng chí Tham mưu trưởng Hoàng Điền, Ban tiếp quản này có đủ cán bộ của các Cục Quân y, Quân nhu, Quân khí, Vận tải (Nhu, Y, Khí, Vận), có nhiệm vụ tiếp quản toàn bộ tài sản của quân địch để lại trên khắp chiến trường.

Hai là, trong vòng hai tuần lễ phải tổ chức và sản xuất ra từ 3 đến 4 tấn thuốc tẩy trùng. (Bác sĩ Từ Giấy còn nhấn mạnh sản xuất càng nhiều càng tốt). Công thức cần phải có là vôi bột với 3% DDT. Thuốc DDT có sẵn 200kg trong kho thuốc tiền phương, như vậy công việc chính là sản xuất ra đủ lượng vôi bột để tạo thành thuốc tẩy trùng. Thuốc tẩy này cần có gấp để giải quyết vấn đề ô uế môi trường do sự phân hủy tử thi của địch trên khắp chiến trường (Tử thi phía ta, ta tự giải quyết kịp thời, không bỏ bất cứ tử thi nào, kể cả những tử thi không còn nguyên vẹn). Đặc biệt là phải giải quyết gấp ở những khu vực xung quanh dòng sông Nậm Rốm, để giữ cho nước sạch khi bộ đội và dân công vào tiếp quản khu này.

Nhận hai nhiệm vụ trên tôi vô cùng sung sướng, dù trước mắt còn nhiều khó khăn cần khắc phục mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ. Cục trưởng không hé ra một lời nào về cuộc chiến giữa ta và địch, nhưng tôi cảm thấy ngày chiến thắng đã gần kề, niềm vui và tin tưởng trong tôi rất cao.

Bây giờ có 3 việc phải suy nghĩ để hoàn thành nhiệm vụ thứ 2 là:

- Tìm người biết xây lò và nung vôi.

- Thực hiện lò nung không khói để tránh máy bay địch oanh tạc.

- Sản xuất và đóng gói kín, chống mưa ướt, bảo quản thuốc được tốt nhất trong điều kiện chiến trường.

Vấn đề tìm người biết nghề vôi, trong hàng vạn dân công và chiến sĩ, nhất định thế nào cũng có người biết. Tôi cùng 3 chiến sĩ của kho thuốc dã chiến đi khắp các đơn vị dân công của hai tỉnh Vĩnh Phúc và Thanh Hóa, vì chúng tôi cho rằng hai tỉnh đó có nơi đã sản xuất ra vôi. Chỉ sau 3 ngày, ngày 19 tháng 4, hai dân công người Thanh Hóa là anh Nguyễn Cối và anh Lê Nguyên Mộc đã là các nhân vật chính chúng tôi cần đến, vì cả hai tự nhận đã làm nghề nung vôi ở quê nhà từ nhỏ. Thế là khó khăn cơ bản chúng tôi đã vượt qua.

Vấn đề xây lò nung vôi chống khói, lúc đầu tôi cho là khó nhất, nhưng khi phát động lấy ý kiến quần chúng, thì mọi chuyện đều trở nên dễ dàng. Lúc này đơn vị tôi được bổ sung thêm 25 dân công, 3 chiến sĩ của kho trung tuyến và tôi là 29 người. Chúng tôi đã họp nhiều giờ, mỗi người góp một ý kiến và đi đến quyết định xây lò đúng như bếp Hoàng Cầm, bếp mà quân đội ta đang sử dụng. Chỉ cần xây lò cao to theo ý định, đủ để ra khoảng 2-3 tấn vôi là được.

Lò được xây nhanh với nguồn đá tại chỗ. Địa điểm có núi đá vôi, có rừng già hiểm trở, rất kín đáo và thuận tiện. Lò xây bằng đá kết mối bằng bùn dẻo. Bùn dẻo có từ loại đất sét trắng được lấy ở khu ruộng lúa nước của dân quanh khu công trường. Vất vả nhất là việc đào hầm thoát khói để đề phòng địch phát hiện. Chúng tôi phải đào một đường hào dài gần 360 mét, rộng và sâu 1 mét. Trên mặt hào xếp các loại cây lá xanh tươi để khói thoát ra từ từ thành cụm. Cuối đường hào là hầm chứa khói để khói chưa tan hết có thể thoát dần. Hầm chứa khói này cao 2 mét, rộng 5 mét. Trong quá trình theo dõi, chúng tôi cho rằng đây là một công trình rất sáng tạo của quần chúng để có được một lò nung vôi chống khói hoàn hảo.

29 người ngày đêm thay nhau đào đắp, ngày 22 tháng 4, lò được đốt bằng củi gỗ dưới sự chứng kiến của toàn đoàn. Sau 3 ngày đêm, với sức nóng liên tục và kiên trì của những người dân công chăm chỉ, 6 giờ sáng ngày 26 tháng 4, mẻ vôi đầu tiên đã ra lò với chất lượng kỹ thuật đạt yêu cầu. Toàn đoàn đã chuẩn bị để có ngay mẻ vôi thứ hai và nó cũng được ra lò theo đúng tiến độ 3 ngày sau đó, ngày 29 tháng 4.

Có vôi cục rồi vấn đề đặt ra là nhanh chóng biến nó thành vôi bột. Ngay tức khắc chính những người dân công trong đoàn đã tạo ra những cối giã theo kiểu giã gạo ở miền xuôi. Không quản bụi vôi và mồ hôi nhễ nhại. Chúng tôi đã thay phiên nhau vào cối giã. Trộn 3% DDT vào vôi bột, chúng tôi đã có thuốc khử trùng rất tốt.

Một khó khăn rất lớn mà đoàn chúng tôi phải mất công đi nhiều nơi nhiều chỗ để tìm cách giải quyết, đó là vấn đề đóng gói. Thuốc khử trùng phải được bảo quản tránh không khí, mưa gió và mang vác gọn nhẹ khi sử dụng. Việc này chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các đơn vị pháo binh - Cục Quân khí. Các anh đã cung cấp cho chúng tôi hàng trăm hộp cạc-tông, loại đựng pháo 105 ly đã được thải ra. Với 15kg thuốc khử trùng đựng trong một ống cạc-tông có đầy đủ nắp đậy, không sợ mưa ướt, không làm thuốc vón cục lại vừa cho người sử dụng. Một sự tận dụng rất sáng tạo mà các đồng chí pháo binh đã góp phần vào việc khắc phục khó khăn của chúng tôi.

Tối ngày 7 tháng 5 năm 1954, ngày đại thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ, 300 ống thuốc khử trùng đã được vận chuyển vào Mường Thanh và ngay ngày 8 tháng 5 năm 1954, với sự tận tâm tận lực và dũng cảm của ĐỘI VỆ SINH PHÒNG DỊCH - Ban Quân y tiền phương (Cục Quân y) do đồng chí Nguyễn Ngọc Thảo làm đội trưởng (sau này đồng chí Thảo làm Cục trưởng Cục Quân y) cùng hàng trăm chiến sĩ được huy động để mang chất khử trùng này đi phủ lấp và tẩy uế tất cả các chất thải từ sinh hoạt, từ y khoa và đặc biệt là hàng ngàn xác chết của địch. Công việc khử trùng được làm suốt một khu vực rộng lớn Mường Thanh, Hồng Cúm và các nơi địch đóng quân rải rác khắp chiến trường Điện Biên Phủ. Sau 2 ngày (8 và 9-5) toàn thể khu vực chính ở chiến trường đã được tẩy sạch, quân dân ta đã được sống và hít thở không khí trong lành, tươi mát trong niềm vui đại thắng. Hầu hết mọi người đều không biết rằng chỉ cách đây vài ngày, chiến trường đã bị xú uế do địch gây ra như thế nào.

Câu chuyện tôi kể chỉ có vậy, nhưng tôi cho rằng đó là một minh chứng cho sự chỉ đạo rất cụ thể, rất sáng suốt của Bộ Chỉ huy chiến dịch, của Ban Quân y tiền phương, Tổng cục Cung cấp. Khi có sự chỉ đạo sát sao của cấp trên, bất cứ nhiệm vụ nào dù khó khăn phức tạp đến đâu, nếu ta biết dựa vào dân, dựa vào chiến sĩ thì mọi việc sẽ thành công mà nhiều khi ta không ngờ tới. Ở một chiến trường đầy bom đạn, máy bay giặc bay lượn suốt ngày đêm, vậy mà chúng ta có một công trình sản xuất rất hiệu quả, lại che mắt được quần địch, không một làn khói, không một tia lửa, không một tổn thất. Đây là một thành công của đoàn làm thuốc khử trùng, tuy nhỏ nhưng góp phần vào sự thành công rất to lớn của chiến thắng Điện Biên Phủ.

Nhiệm vụ thứ nhất ở trong Ban tiếp quản thì tôi không kể các đồng chí và các bạn cũng biết. Toàn bộ súng ống, thuốc men, quân trang quân dụng đều được thu hồi để bổ sung cho các đơn vị quân đội và dân quân địa phương tiếp tục chiến đấu, và chỉ một thời gian ngắn sau chiến thắng Điện Biên Phủ, toàn bộ miền Bắc đã được giải phóng.

Qua câu chuyện nhỏ này tôi muốn thế hệ sau của chúng ta hiểu rõ hơn về chiến công của cha ông, về sự sáng tạo của quần chúng nhân dân, về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng dẫn đến chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn