Chúng tôi đến đơn vị khoảng tám giờ tối cùng ngày. Lúc đó tiểu đoàn bộ, tiểu đoàn chúng tôi đang sinh hoạt, đang nhắc đến tên chúng tôi - những người chậm phép đến 20 ngày. Chậm phép gần 20 ngày, nghĩ lại chuyện đó đến khi viết những dòng này tôi không khỏi ân hận với các anh cùng xã đã hi sinh. Với tôi ân hận bởi đã không nghe lời các anh, những người tái ngũ cùng đợt đi này, những người đã có vợ con... Ngày đó, chỉ làng tôi có người tái ngũ, đó là các anh: Sỏi, Ất, Xuân, Hiền, Khải, Thắng, Tấn, Thuần và anh Môn, anh Phong làng Bùi; còn tân binh như tôi có Khoa, Mỹ, Quy và Hoa là vừa buông tay bút, tuổi đời mới chớm mười tám. Khi gần hết bảy ngày phép, lũ tân binh chúng tôi nằng nặc đòi các anh trả phép đúng hạn. Các anh tỉnh bơ và nói: "Phải ở nhà một tuần, mười ngày nữa mới đi, chúng tao còn phải lo gia đình. Chúng mày thích thì cứ đi trước đi..." Chúng tôi sợ không dám nói nữa, song nghĩ đến lệnh quân sự, lại giục các anh. Nói thế, nhưng các anh cũng ra đi sau đó hai ngày. Hôm ra đi, các anh bảo: "Nhớ nhé! Đừng có mà khóc, mà ân hận vì gian khổ quá nhé!" Và trong các anh ra đi ngày ấy, chỉ có anh Ất, anh Xuân và anh Sỏi trở về, còn lại vĩnh viễn nằm lại chiến trường Quảng Nam ác liệt. Đến nay vẫn chưa tìm được phần mộ các anh ở đâu. Nếu nghe lời các anh cứ ở nhà một tuần thì có lẽ chúng tôi chưa đi vào chiến trường ngay đợt ấy, mà lùi lại đợt sau. Câu các anh thường nói khi trên đường hành quân là: Đã đi, hãy nhớ không lùi, chết xanh cỏ, sống đỏ ngực. Đừng làm gì để xấu hổ với mọi người!" Tôi vẫn nhớ, nhưng có một điều tôi vẫn không thực hiện được như lời các anh nói: "đừng có khóc khi gian khổ". Tôi đã khóc nhiều trên đường hành quân leo núi, vượt dốc, lội suối, nhịn đói, bệnh tật suốt ba tháng ròng, nhất là những ngày sốt rét phải chống gậy, dò dẫm đi từng bước trong rừng thẳm đơn côi.
Các anh: Hiền, Thắng, Tấn, Thuần, Khải, Môn... và các bạn: Hoa, Khoa, Quy, Thịnh..., tôi vẫn nhớ các anh, các bạn cùng ngày ấy ra đi nhưng không có ngày trở về..Mấy ngày sau, chúng tôi hối hả làm công tác chuẩn bị, nhận lĩnh quân trang, trang bị vũ khí, khí tài. Toàn bộ quân phục được thay thế bằng quân phục của quân giải phóng miền Nam và ba bộ quần áo dài bà ba đen, năm bộ quần áo lót, một bộ tăng võng, một áo đi mưa, hai khăn mặt màu cỏ úa, hai đôi giầy cao cổ, một đôi dép cao su, hai đôi tất, một túi thuốc quân y cá nhân, một cân ruốc bông, một cân muối hột, một ăng go, một dao găm, một dao tông, xẻng, cuốc cá nhân... Về vũ khí, tôi là lính thông tin hữu tuyến nên được trang bị một máy 0743 nặng năm kg, một cuộn dây thép nặng bẩy cân, một khẩu súng CKC, ba trăm viên đạn, và hai quả lưu đạn... Tất cả cho vào ba lô con cóc.Về lương thực, lúc nào cũng phải có bao gạo bảy cân và hai đến ba cân lương khô chống đói khi cần. Tất cả hầu như là được Trung Quốc sản xuất. Tổng trọng lượng trên dưới bốn mươi cân. Với khối lượng ấy, chúng tôi đã hành quân ròng rã hơn ba tháng trời đi bộ từ khu rừng Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, rồi vượt Trường Sơn vào đất Quảng Nam chiến đấu.Cuối tháng một năm đó, năm 1966, chúng tôi bắt đầu hành quân. Tôi được biết đây là lần đầu tiên miền Bắc đưa gọn cả một Trung đoàn đủ biên chế vào chiến trường.Kũng bắt đầu từ ngày xuất quân lên đường, Trung đoàn mang tên mới: Trung đoàn 31, hay thường gọi mật danh là Công trường 31. Trung đoàn được biên chế về Sư đoàn 2, mật danh là Nông trường 2 cũng bắt đầu thành lập vào thời gian đó, tại quân khu 5. Tiểu đoàn Tám của chúng tôi được đổi thành: xưởng Bình Đà, các tiểu đoàn khác của Trung đoàn đổi thành Xưởng Bình Minh, xưởng Bình Thiện.Những ngày hành quân bộ bắt đầu. Trên đất miền Bắc, chúng tôi hành quân toàn bộ vào ban đêm. Gần tối ra đi, gần sáng tới nơi tạm dừng là làng xã trên dọc đường đi. Khi đến vị trí tạm dừng, bao giờ cũng có thanh niên, du kích đưa chúng tôi tới tận từng nhà ngủ. Các gia đình bao giờ cũng dành cho chúng tôi nơi nghỉ yên tĩnh nhất. Ngày nào cũng vậy, cứ đến nơi, quăng ba lô, là tôi lăn ra ngủ ngay. Trưa dậy ăn cơm rồi ngủ tiếp. Chiều ăn cơm xong là chuẩn bị hành quân. Khoảng năm ngày hành quân liên tục mới được nghỉ một ngày đêm.Suốt chặng đường dài trên đất Bắc, dọc theo dải miền Trung, đường đi không theo các đường quốc lộ, tỉnh lộ mà theo các đường liên thôn, liên xã, đường mương máng dọc cánh đồng nằm cách xa về phía Tây đường Một để giữ bí mật.Ngày ấy đi không được công khai, phải giữ tuyệt mật, nên chúng tôi yên lặng ra đi. Mọi liên lạc với hậu phương bị cắt đứt, kể cả việc gửi thông tin, thư từ đi các nơi cũng không được phép.Những đêm hành quân, buồn ngủ đến rủ người, hai vai rát bỏng, lưng cong đau nhức vì mang nặng, tôi không nhớ đã khóc bao nhiêu lần trên đường hành quân trên đất Bắc nữa. Không dưới vài lần không theo nổi đơn vị, tôi đã nghĩ tới chuyện vứt bỏ trang bị cá nhân đi cho nhẹ, nhưng rồi lại cố lê bước đi, có lần mãi tới khi mặt trời lên tôi mới đến được vị trí, tất nhiên phải có sự giúp đỡ của các cô dân quân du kích. Những lúc như thế mới nhớ nhà, nhớ mẹ làm sao, mới thấy thương nhớ đời học sinh làm sao!Những ngày hành quân trên đất Bắc, được tiếp xúc với nhân dân, nhưng chưa kịp làm quen thì đã ra đi nên tôi không còn nhớ những địa danh, những gia đình, những cô thanh niên, dân quân, du kích... đã đưa đón, chăm sóc tôi khi sức khỏe giảm sút, khi đau yếu. Nhân dân các tỉnh miền Trung thật tốt, nghèo nhưng tình người rộng mở...Tuổi mười tám vào đời thật dữ dội! Tuổi mười tám ngày đó ra đi như mộng du, chưa hiểu những gì đang chờ tôi phía trước. Tôi chỉ biết đi và đi!