Cựu chiến binh

Xuân ngày ấy – Người đồng đội nằm lại mùa xuân Đinh Mùi năm 1967

Xuân ngày ấy – Người đồng đội nằm lại mùa xuân

Nghệ An17/07/2026Chi đoàn Công an xã Nghĩa Khánh, tỉnh Nghệ An (Công an xã Nghĩa Khánh, tỉnh Nghệ An)10 lượt xem0 lượt chia sẻ
Xuân ngày ấy – Người đồng đội nằm lại mùa xuân Đinh Mùi năm 1967

Có những mùa xuân đi qua chỉ còn là ký ức. Nhưng cũng có những mùa xuân trở thành một phần máu thịt của cuộc đời, theo con người ta suốt cả một kiếp. Với tôi, mùa xuân năm Đinh Mùi 1967 là mùa xuân như thế. Đó là mùa xuân của khói lửa chiến tranh, của những trận đánh sinh tử và cũng là mùa xuân tôi mất đi người đồng đội thân thiết nhất – liệt sĩ Hồ Trọng Xuân.

Đã gần sáu mươi năm trôi qua, nhưng mỗi khi tết đến, ký ức ấy vẫn hiện lên nguyên vẹn như mới hôm qua.

Ngày ấy, tôi và anh Xuân cùng hành quân vào chiến trường Quảng Ngãi. Những đêm nằm trong chiến hào, chúng tôi lắng nghe tiếng đọc thơ Bác Hồ giữa tiếng đại bác vọng về từ xa. Mùa xuân đến rất lạ. Không có pháo hoa, không có bánh chưng, chỉ có tiếng súng, ánh chớp của bom đạn và niềm tin mãnh liệt vào ngày đất nước thống nhất.

Sau chiến thắng ở Cầu Cháy, đơn vị chúng tôi tiếp tục chiến đấu tại Hưng Nhượng, rồi Sơn Đông, Sơn Tịnh. Cuộc đối đầu với lữ đoàn dù của địch diễn ra vô cùng ác liệt. Đất trời như rung chuyển bởi bom pháo. Khói lửa phủ kín cả một vùng bên dòng sông Trà.

Khi mệnh lệnh "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" vang lên, tất cả đồng đội đều bật khỏi chiến hào xung phong. Tôi và anh Xuân sát cánh bên nhau giữa mưa bom bão đạn. Lòng căm thù giặc khiến chúng tôi quên đi mọi hiểm nguy.

Rồi tôi trúng đạn.

Anh Xuân lúc ấy là y tá của đơn vị. Giữa làn đạn dày đặc, anh lao đến băng bó cho tôi. Tôi biết trận đánh đang ở thời khắc quyết liệt nhất nên gạt tay anh:

"Không kịp nữa rồi! Hãy để mặc tôi mà tiếp tục chiến đấu!"

Nhưng anh không nghe. Người đồng đội ấy vẫn tìm mọi cách đưa tôi ra khỏi nơi nguy hiểm.

Chưa đi được bao xa, tôi lại trúng thêm một loạt đạn khác, bị thương rất nặng. Anh Xuân tiếp tục dìu tôi về phía căn hầm tránh pháo của một gia đình ở Sơn Đông. Con đường chỉ dài vài chục mét nhưng phải đánh đổi bằng cả tính mạng.

Khi vừa đến nơi, một viên đạn của địch đã xuyên vào người anh.

Anh gục xuống, ngã vào lòng tôi.

Máu của anh và máu của tôi hòa làm một.

Đó là khoảnh khắc đau đớn nhất trong cuộc đời người lính mà tôi không bao giờ quên.

Quân địch tràn lên chiếm trận địa. Một cô gái địa phương bất chấp hiểm nguy lao ra kéo tôi xuống hầm trú ẩn. Nhưng quân địch phát hiện, chúng ném lựu đạn vào cửa hầm rồi bắt tất cả những người dân có mặt trong đó. Riêng tôi bất tỉnh, chúng tưởng đã chết nên kéo xác ném trở lại.

Chính sự nhầm lẫn ấy đã giữ lại mạng sống của tôi.

Sau đó, du kích xã Sơn Đông tìm thấy tôi và đưa vào bệnh viện dã chiến của Quân khu 5 trong rừng để cứu chữa. Sáu tháng sau, khi sức khỏe dần hồi phục, tôi trở lại chiến trường.

Những người dân năm xưa đã chôn cất những chiến sĩ hy sinh.

Tôi thắp hương cho từng ngôi mộ.

Rồi lặng người khi nhận ra ngôi mộ của anh Hồ Trọng Xuân vẫn nằm ngay cạnh căn hầm nơi anh đã ngã xuống sau khi cứu tôi.

Chiến tranh kết thúc.

Tôi tiếp tục học tại Đại học Y khoa Hà Nội, rồi trở thành bác sĩ. Sau này tôi có nhiều năm công tác, giữ cương vị Giám đốc Bệnh viện 4 Phủ Quỳ.

Cuộc đời bước sang một chặng đường mới, nhưng trong lòng tôi chưa bao giờ nguôi nỗi day dứt.

Tôi đã sống.

Còn anh nằm lại tuổi thanh xuân nơi chiến trường.

Tôi tự nhủ mình phải tìm được gia đình anh để kể cho họ nghe những phút cuối cùng của người chồng, người cha đã anh dũng hy sinh.

Thế nhưng việc tìm kiếm kéo dài suốt bốn mươi bốn năm.

Tôi không biết quê anh ở đâu, nhập ngũ từ đơn vị nào. Mọi dấu vết đều mờ nhạt theo thời gian.

Có lúc tưởng như tuyệt vọng.

Rồi điều kỳ diệu đã đến.

Tôi tình cờ gặp được người con của anh Xuân. Đến khi gặp chị Nguyễn Thị Vân – vợ anh – tôi càng sửng sốt hơn. Hóa ra tôi đã nhiều lần trực tiếp khám và điều trị cho chị mà không hề biết đó là người vợ của đồng đội mình.

Điều khiến tôi xúc động hơn nữa là trước khi tái ngũ, Hồ Trọng Xuân từng là y tá của bệnh xá Nông trường Tây Hiếu – tiền thân của chính Bệnh viện 4 Phủ Quỳ nơi sau này tôi làm giám đốc.

Đó như một sự sắp đặt kỳ diệu của số phận.

Nhưng niềm vui đoàn tụ cũng xen lẫn nỗi buồn.

Mộ anh đã được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ và trở thành một ngôi mộ chưa xác định được danh tính.

Khi xem giấy báo tử, tôi phát hiện ngày hy sinh của anh bị ghi sai. Suốt bốn mươi ba năm, gia đình đã cúng giỗ anh không đúng ngày.

Ngày mùng 7 tháng Giêng năm 2011, tôi đến nhà chị Vân. Tôi kể lại toàn bộ trận đánh, những phút cuối đời của anh Xuân và cùng gia đình tổ chức lại ngày giỗ đúng với ngày anh đã ngã xuống.

Hôm ấy, cả gia đình lặng im.

Không ai cầm được nước mắt.

Tôi cũng vậy.

Bởi cuối cùng, sau bốn mươi bốn năm, tôi đã hoàn thành được lời hứa với người đồng đội đã lấy chính mạng sống mình để cứu tôi.

Từ những ký ức ấy, bài thơ "Xuân ngày ấy" ra đời.

Đó không chỉ là một bài thơ tưởng niệm.

Đó là nén hương của người còn sống dành cho người đã khuất.

Là lời tri ân gửi đến Hồ Trọng Xuân – người chiến sĩ, người y tá, người đồng đội đã quên mình vì đồng chí.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những người như anh Hồ Trọng Xuân vẫn sống mãi trong ký ức của đồng đội, trong lòng gia đình và trong lịch sử dân tộc.

Mỗi độ xuân về, khi đất nước thanh bình đón năm mới, tôi lại nhớ đến mùa xuân năm ấy.

Mùa xuân của tuổi hai mươi.

Mùa xuân của máu và hoa.

Mùa xuân mà một người đồng đội đã nằm lại để tôi được sống, để được kể lại câu chuyện này cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Đó là món nợ ân tình mà suốt cuộc đời này tôi không bao giờ trả hết.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn