XUỐNG ĐƯỜNG THÔI, BÀ CON ƠI!
Người kể: VÕ VĂN KÌNH PHẠM HỮU BỐN ghi
Năm 1967, tôi thoát ly và trở thành cán bộ văn phòng Khu I - Hòa Vang, nằm ở cánh Bắc huyện Hòa Vang. Bấy giờ, trụ sở của anh em cán bộ, du kích cánh Bắc đóng ở địa điểm Khe Lớn nằm tại núi Hòn Quắp, nay thuộc địa bàn xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang. Sở dĩ gọi là Hòn Quắp vì trên đỉnh núi có chỗ đá nhô ra và quắp lại. Mấy chục năm đã trôi qua nhưng một trong những kỷ niệm tôi không thể nào quên, đó là không khí sôi động, hào hứng của những ngày trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào Xuân Mậu Thân 1968 ở ngay chính quê hương tôi.
Hồi ấy, sau khi học tập chủ trương của trên, anh em cán bộ, du kích ở cánh Bắc Hòa Vang tổ chức đi tuyên truyền, giáo dục bà con về việc giành chính quyền, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Muốn vậy, cần phải đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Và, ngày tết năm nay là thời cơ, ta cần chớp lấy... Còn về hình thức tuyên truyền khá phong phú và đa dạng. Xóm nào dân theo ta nhiều, lại ở xa địch như xóm 2, xóm 4 thì đợi trời tối ta mới vào, vận động bà con tập trung lại, cán bộ lên nói chuyện. Những nơi địch đóng đồn quá gần, ta cho cơ sở đến từng nhà rỉ tai, tuyên truyền miệng là chính. Nói chung, vốn sẵn tinh thần yêu nước, căm ghét Mỹ ngụy, người dân làng Kim Liên ai ai cũng phấn khởi, hưởng ứng ngay.
Chuẩn bị tinh thần đâu vào đấy rồi, sáng ngày Ba mươi tết năm Mậu Thân, anh em cán bộ Khu ủy Khu 1, cán bộ du kích xã Hòa Hiệp, lực lượng K700, cả thảy ước chừng một trăm đồng chí thuộc khối Dân Đảng bí mật tập trung xuống vùng giáp ranh sát chân núi Hòn Quắp. Riêng lực lượng bộ đội chủ lực ém ở cánh Nam Ô. Thật ra, núi Hòn Quắp cách địa bàn xã Hòa Hiệp không xa, chỉ vài cây số đường rừng. Cho nên, thời gian đi không nhiều lắm, lại tuyệt đối an toàn. Sau đó, tiếp tục họp chuẩn bị lần cuối cùng, phân công ai vào công việc nấy, khỏi bị động, lúng túng. Khoảng mười một giờ đêm, được lệnh, mọi người lặng lẽ xuống Kim Liên. Một số cán bộ, du kích vào ở ngay tại cơ sở nhà dân. Một số khác nằm ở ngoài. Tất cả đều diễn ra trong bí mật, bất ngờ. Khoảng bốn giờ sáng, anh em tỏa đi các hướng, các thôn, huy động nhân dân ra đường. Do chuẩn bị trước nên lúc này, bà con ta, người thì xách đèn gió, kẻ vác dao, người cầm rựa, lại không hiếm người cầm phạn rầm rập nối đuôi nhau không khác gì thời kỳ nhân dân nổi dậy cướp chính quyền trong cách mạng Tháng Tám năm 1945 long trời lở đất. Trong đó, một trong những phụ nữ nổi bật nhất, kiên cường nhất là bà Nguyễn Thị Lan, bấy giờ đã bảy hai tuổi, nhưng cũng hăng hái cầm dao lở, đèn bóng đi đầu, vừa đi vừa hô: “Bà con ơi ! Mau tham gia xuống đường giành quyền lợi cho nhân dân!”. Không chi bà, nhiều người tuổi trên năm mươi, sáu mươi như bà Nguyễn Thị Khóa, bà Dần, ông Dương Thêm... cũng gia nhập đoàn biểu tình ước không dưới năm trăm người. Làng Kim Liên hầu như đi hết, chỉ còn lại trẻ em và một số cụ già sức yếu mà thôi. Họ bắt đầu kéo đi từ xóm 4, qua xóm 3, đến xóm giữa rồi tới xóm 2, còn gọi là xóm Vạn. Những tiếng hô vang dội gần như xé toạc màn đêm: “Bà con ơi! Xuống đường giành độc lập đi bà con!”. Cứ mỗi lần qua các xóm, đoàn người lại càng đông đúc và náo nhiệt hơn.
Cũng cần nhắc lại rằng, do được chuẩn bị chu đáo từ trước nên khi cán bộ, du kích vào làng, anh em được nhân dân cho mượn hàng chục chiếc khăn đóng, áo dài. Hàng mấy chục anh em khác khoác áo blouse ở ngoài. Nhờ vậy, tất cả súng, đạn, lựu đạn, dao, mác, phạn... đều được giấu kỹ bên trong, tránh trường hợp địch phát hiện. Riêng tôi, tôi cũng khoác áo blouse, bên trong giấu khẩu súng ngắn. Thời gian thấm thoát trôi qua. Chẳng mấy chốc, đoàn người đã kéo ra đường Quốc lộ 1 với khí thế sôi nổi. Đến đồn lính Mỹ đóng tại địa điểm nay là trường cấp 1 Nguyễn Văn Cừ, có mấy thằng Mỹ cầm súng ra chặn lại. Một thằng hỏi bằng tiếng Việt chưa sỏi lắm: “Đi đâu?”. Người dân trả lời: “Tục lệ ngày tết của bà con tui là phải kéo đi chúc tết các làng bên”. Chúng chưa tin lắm nhưng thấy dân làng mặc áo dài khăn đóng nhiều. Những người khác ai cũng áo quần tươm tất. Thêm vào đó, chẳng thấy súng ống, dao, mác... gì cả. Thế là chúng tin và để đoàn người tiếp tục cuộc hành trình.
Khi đoàn người đến cầu Thủy Tú bắc qua sông Nam Ô, bọn Mỹ gác cầu chạy ra ngăn lại. Ta bèn cử em Phạm Thị Hạnh (là cơ sở của ta), bấy giờ còn trẻ, khoảng mười bảy, mười tám tuổi, hàng ngày bán các loại hàng cho lính Mỹ và biết ít tiếng bồi, đến tiếp xúc với chúng. Em vừa giải thích vừa đưa tờ bướm mà ta đã in sẵn từ trước. Nội dung tờ bướm giới thiệu tập tục đi chúc tết sớm của bà con, chúc tết giữa làng này và làng khác, yêu cầu Mỹ không nên gây cản trở. Nhưng, dù có xem qua tờ bướm và dù em Hạnh cố thuyết phục đến đâu, bọn lính Mỹ gác cầu Thủy Tú cũng không chịu. Chúng bảo nếu muốn chúng sẽ dùng xe chở bà con qua. Anh em hội ý, thấy không thể làm theo yêu cầu của chúng. Tốt nhất là đi vòng đến xóm vạn Thủy Tú, nhờ dân trong xóm tập trung đoàn ghe khoảng ba mươi chiếc đưa qua. Thế nhưng, khi bà con vừa xuống ghe, lại có tin bọn Mỹ đã vây hết trên trảng. Bên kia Nam Ô, nghe có tiếng trống thùng thùng báo hiệu khởi nghĩa của anh Năm Dừa. Rồi, có nhiều tiếng súng nổ giòn. Coi như hiệu lệnh Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Nam Ô đã bắt đầu.
Bấy giờ, trời gần sáng tỏ. Biết không thể đi hết được, ta chỉ cho một số anh em cùng dân làng qua bên kia sông. Còn tất cả lùi lại, lần lượt kéo về làng, chuẩn bị ứng chiến. Thế nhưng, lúc mọi người mới ra đến giữa sông, bọn Mỹ xả đại liên xuống, bắn cắt mặt nước để ngăn lại. Bà Dần bỗng kêu lên: “Tui bị thương rồi!”. Mọi người xúm lại, băng bó vết thương. Bà cố nén cơn đau, vừa thở ra vừa nói: “Anh em cứ tiếp tục đi. Để băng bó xong, tui qua tiếp”. Nói vậy, nhưng khi băng bó, biết bà bị gãy chân, anh em không còn cách nào khác là đưa bà trở lại, chuẩn bị cho đi nhà thương chữa trị. Những người còn lại cũng qua được bên kia sông. Chến sự mỗi lúc một ác liệt. Súng bắn loạn xạ. Trên đầu, máy bay địch quần qua quần lại, dội bom vào một số vị trí chúng nghĩ có quân ta trú ẩn. Do chỉ có một số nơi nổi dậy nên địch có điều kiện tập trung quân và hỏa lực đối phó, ta không thể cầm cự nổi. Tuy nhiên, ở Nam Ô, anh em bộ đội chủ lực cùng với du kích cũng kiên cường chiến đấu cả ngày. Nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh. Một số khác bị thương, nhưng tất cả không ai lùi bước. Tối mồng Một, khi được lệnh, họ mới rút lui.
Cũng ngay trong buổi sáng mồng Một Tết, sau khi phát hiện lực lượng chủ lực và dân quân du kích tấn công vào Nam Ô, bọn Mỹ đã triển khai quân vây chặt làng Kim Liên nói riêng và xã Hòa Hiệp nói chung. Cho nên, khi ta quay về thì bị kẹt, không thể ra được. Dân làng phải nuôi giấu ngay trong nhà mình. Đến một giờ chiều, số anh em cán bộ du kích này lại được người dân cho mượn quần áo, nông cụ giả vờ ra đồng tưới cây thuốc, phát bờ... đi cùng với bà con thoát ra khỏi làng, trở về vùng giải phóng ở Khu 1 trên núi Hòn Quắp một cách an toàn.
Mấy chục năm đã trôi qua nhưng những kỷ niệm về đêm Ba mươi, ngày mồng Một Tết Mậu Thân 1968 luôn đọng mãi trong tâm khảm tôi. Hình ảnh những người mẹ, người chị, người cha, người anh... nườm nượp nối đuôi nhau, ai nấy đều lận trong người, qua lớp áo rộng thùng thình những dao, rựa, phạn, tay cầm đèn đuốc sáng trưng cả một góc trời, vừa đi vừa hô hào bà con tham gia vào đoàn người vẫn như còn văng vẳng đâu đây. Quả thật, đó là những kỷ niệm sâu sắc, những hình ảnh sinh động thể hiện tấm lòng kiên trung khiến tôi không thể nào quên!


