Y Ơn Niê – Người con vùng căn cứ Đắk Tuôr
Sinh ra, lớn lên và chiến đấu ngay trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng buôn Đắk Tuôr, Y Ơn Niê sớm tham gia lực lượng du kích, rồi trở thành cán bộ quân đội địa phương. Trong những năm tháng ác liệt của Khu căn cứ kháng chiến Đắk Lắk, anh luôn được nhắc đến như tấm gương gan dạ, mưu trí, nhiều lần chỉ huy đánh bại những cuộc càn quét, bình định của địch. Anh hy sinh năm 1972, khi mới hơn 20 tuổi, nhưng tinh thần của anh vẫn là nguồn động lực, khơi dậy ý chí quật cường của đồng bào M’nông v
Buôn Đắk Tuôr nằm tựa lưng vào dãy Chư Yang Sin hùng vĩ, giữa bạt ngàn rừng già, suối thác, là một trong những điểm tựa quan trọng của Khu căn cứ kháng chiến tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 1965–1975. Nơi đây cũng là quê hương của Y Ơn Niê – người con trai M’nông mà sau này tên anh được đặt cho một con đường ở Buôn Ma Thuột và một nhà tưởng niệm ở buôn làng.
Sinh năm 1949, Y Ơn lớn lên trong tiếng cồng chiêng và cả tiếng súng. Cha mẹ anh, cũng như nhiều người trong buôn, là những người gắn bó với cách mạng từ thời chống Pháp, từng nuôi giấu cán bộ, dẫn đường cho bộ đội băng rừng. Khi Mỹ - ngụy mở rộng chiến tranh ra toàn miền Nam, buôn Đắk Tuôr trở thành điểm bị địch nhòm ngó vì nằm sát sườn Khu căn cứ. Từng đoàn quân càn, từng trận rải chất độc hóa học, bom B52 trút xuống vùng này nhằm “bóc vỏ” căn cứ địa.
Y Ơn tham gia du kích xã từ khi còn rất trẻ. Anh nhanh nhẹn, thông thạo địa hình rừng núi, nhiều lần dẫn bộ đội chủ lực luồn qua vòng vây, thoát các cuộc truy lùng gắt gao. Khi Khu căn cứ tổ chức lại lực lượng, anh trở thành chiến sĩ, rồi cán bộ của đơn vị vũ trang địa phương, trực tiếp chiến đấu trên mảnh đất quê hương.
Trong ký ức của bà con Cư Pui, Y Ơn là người “đi đầu trong mọi việc khó”: từ gùi gạo vượt suối, vận chuyển vũ khí, đến chốt chặn ở những điểm xung yếu chống lại các chiến dịch bình định. Có lần, địch mở một cuộc càn lớn vào Đắk Tuôr với ý định “xóa sổ làng du kích”, chúng dùng pháo dọn đường, sau đó cho bộ binh, biệt kích luồn sâu. Biết lực lượng mình mỏng hơn nhiều, Y Ơn cùng cấp trên quyết định không đối đầu trực diện, mà chia nhỏ lực lượng, lợi dụng địa hình rừng núi, đánh tỉa, đánh chặn từng toán. Anh trực tiếp chỉ huy tổ chiến đấu bám một sườn đồi, chọn vị trí đặt mìn, bố trí hỏa lực sao cho khi đội hình địch lọt vào “cái túi lửa” là bị đánh bất ngờ. Trận ấy, du kích và bộ đội địa phương tiêu diệt, làm bị thương nhiều tên, buộc phần còn lại phải tháo chạy.
Không chỉ đánh giặc, Y Ơn còn là cầu nối giữa tổ chức và bà con trong buôn. Anh nhiều lần đi cùng cán bộ huyện vận động dân sơ tán khi có nguy cơ bom B52 rải thảm, giúp các gia đình dựng lại nhà sau khi bị cháy, chia từng lon gạo trong những mùa đói kéo dài do rẫy bị chất độc hóa học phá hoại. Câu nói mà nhiều người còn nhớ là: “Còn rừng, còn núi, còn buôn mình thì còn cách đánh giặc. Mình mất bây giờ, con cháu mình khỏi phải mất sau này.”
Năm 1972, trong một trận chiến đấu ác liệt bảo vệ tuyến đường vận chuyển từ khu căn cứ xuống đồng bằng, Y Ơn bị thương nặng. Dù đồng đội cố gắng cáng anh ra khỏi tầm pháo nhưng anh đã trút hơi thở cuối cùng trên tay đồng đội, khi tuổi đời mới ngoài hai mươi. Tin anh hy sinh khiến cả buôn Đắk Tuôr chìm trong nước mắt, nhưng cũng thắp lên trong lòng bà con một quyết tâm mới: phải tiếp tục cầm vũ khí, tiếp tục che chở cho bộ đội như Y Ơn đã từng.
Sau ngày đất nước thống nhất, Y Ơn Niê được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Một nhà tưởng niệm anh được xây dựng ngay tại buôn Đắk Tuôr; mỗi dịp lễ tết, học sinh, bộ đội, du khách lại đến dâng hương, nghe già làng kể chuyện về chàng trai M’nông đã hiến trọn tuổi trẻ cho Khu căn cứ kháng chiến.
Nhìn những đổi thay hôm nay – đường bê tông vào buôn, điện sáng, trường học khang trang – nhiều người bảo: “Đắk Tuôr không còn bom đạn, nhưng vẫn còn Y Ơn.” Còn, trong từng câu chuyện bên bếp lửa, trong tên con đường Y Ơn ở Buôn Ma Thuột, và trong ý chí vươn lên của lớp trẻ Cư Pui, Krông Bông – nơi người anh hùng ấy sinh ra và ngã xuống.



