Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Y2 - NHỮNG NGÀY ĐẦU TIÊN

Sinh năm: 11/1942 Qué quán: Khương Thương, Đống Đa, Hà Nội Thường trú: Nhà 123, ngõ 354, Đường Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.35741735 Từ trường Đại học Bách khoa chuyển sang Đoàn 559 Nguyên Thiếu uý Trợ lý Kỹ thuật phòng Vật tư xe máy Cục TMCB Trung uý, Trạm trường Y2 Binh trạm 32 Nguyên Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 524, Binh đoàn 11

Lai Châu12/02/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuối năm 1967, Đoàn 30, một đoàn sỹ quan trẻ mới ra trường của Phân hiệu 2 Đại học Bách khoa Hà Nộị - tiền thân của Học viện Kỹ thuật quân sự được điều động vào chiến trường. Đây là lớp kỹ sư xe máy đầu tiên vào Bộ Tư lệnh 559, tuy chỉ có 24 kỹ sư sĩ quan nhưng được phân công nhận nhiệm vụ tại 10 đơn vị khắp từ Bắc vào Nam trên tuyến đường Trường Sơn, xa nhất là Binh trạm 8 và chiến trường B5.


Bốn chúng tôi, Nguyễn Phạm Tú, Nguyễn Đình Át, Trần Khắc Thiêm, Đặng Đình Viện được nhận nhiệm vụ tại Cục Tham mưu Công binh. Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh trực tiếp giao nhiệm vụ.

Anh Thiêm và anh Viện về xưởng sửa chửa xe máy X34, trực thuộc Cục Tham mưu Công binh, Xưởng trưởng là đồng chí Bảy, một công nhân bậc cao có nhiều kinh nghiệm. Tôi và anh Tú được phân công về Phòng Vật tư xe máy, nhận nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện phương án xây dựng các trạm sửa chữa xe máy công binh và xây dựng tổ cơ động kịp thời ứng cứu xe máy trên các địa bàn.


Đầu mùa khô năm 1968, tôi được phân công dẫn một tổ cơ động vào chốt tại Ka Tốc trên đường 20 cách Lùm Pùm khoảng 14 ki lô mét về phía đông làm nhiệm vụ trung chuyển, lắp ráp máy húc loại C100, T100M nhập tuyến bằng cơ giới, từ đó cho máy tự hành vào giao cho các binh trạm phía trong đồng thời sửa chữa cấp cứu chi viện cho một số cao điểm quanh khu vực đóng chốt Ta Lê, Phu La Nhích, Văng Mu, Tha Mé.


Tại đây, tôi được tin đồng chí Ngọ, cùng đồng chí Nguyễn Phạm Tú được cử xuống đồng bằng Quảng Nam công tác, trên đường về bị B52 rải thảm, cả hai hy sinh để lại nhớ thương cho đồng đội.

Mùa mưa năm 1969, khi ra an dưỡng tại Sầm Sơn, Cục trưởng Phạm Văn Diêu giao cho Phòng Vật tư xe máy lập phương án xây dựng 4 trạm sửa chữa xe máy chốt tại 4 binh trạm trên cơ sở lực lượng có sẵn tại X34, xưởng sửa chữa của Cục Tham mưu Công binh và Trung đoàn 251 Công binh. Bốn trạm mang tên gọi chiến trường Y1, Y2, Y3, Y4. Đồng chí Lê Kim Thơ, Trần Nguyên và tôi dưới sự chỉ đạo của Phó phòng Đào Mậu, dựa vào thực lực của X34 và trang thiết bị còn lại ở các kho sau 3 ngày đã trình được phương án lên Cục trưởng.


Trang thiết bị ban đầu của mỗi Y rất khiêm tốn, chỉ có 1 công trình xa sửa chữa cơ động APM - Liên Xô, 1 cần cẩu 4 - 5 tấn, 3 xe ôtô 2 - 3 cầu, 1 máy phát điện, 1 máy hàn điện, 2 hòm dụng cụ đồ nghề xách tay được bổ sung các loại vam của máy húc, các loại máy cưa v.v...

Mỗi Y tương đương đại đội, quân số 32 - 35 người biên chế gồm 4 tổ: 1 tổ sửa chữa máy húc, ôtô và xe phóng từ, 1 tổ gia công cơ khí, 1 tổ lái xe và 1 tổ hậu cần; trạm trưởng, Trạm phó, chính trị viên chỉ huy trực tiếp.

Tôi và trung uý Phạm Quất được Cục trưởng giao nhiệm vụ Trạm trưởng và Chính trị viên Trạm Y2. Được sự giúp đỡ của Cục Tham mưu Công binh, của Phòng Vật tư xe máy, chỉ trong vòng một tháng chúng tôi đã có đủ quân số, trang thiết bị và biên chế đội hình hành quân vào tuyến, trước các Y khác. Mới vào đầu mùa khô, chúng tôi phối hợp cùng các đơn vị công binh phát quang đường, chống lầy... vào tuyến an toàn cả đội hình và trang thiết bị.


Bác Hồ vừa qua đời, một mất mát lớn lao của toàn dân tộc. Hành quân vào chiến trường nóng bỏng, chúng tôi càng thấy ý nghĩa của lời dạy của Bộ Chính trị "Hãy biến đau thương thành hành động" để nhắc nhở nhau phải công tác chiến đấu sao cho xứng đáng với công lao to lớn của Bác Hồ.


Y2 đã hành quân an toàn vào Binh trạm 32 chỉ sau 3 ngày đêm hành quân nhập tuyến.

Thống nhất với Binh trạm trưởng Đặng Văn Ngữ về nơi đóng quân, lập trạm. Đó là vùng quanh khu vực Km 45 đường 128B, một mảnh đất tương đối bằng phẳng, rừng cây còn chưa bị bom đạn cày xới như dự kiến của Cục trưởng Phạm Văn Diêu đã khoanh vùng chỉ định khi giao nhiệm vụ cho chúng tôi tại Sầm Sơn ngay sau ngày Bác Hồ đi xa.


Nhận điện khẩn của Cục trưởng: "Trạm Y2 tổ chức lực lượng hộ tống đoàn xe đặc biệt hành quân vào tuyến trong...", chúng tôi phải vừa làm lán trại vừa chấp hành nhiệm vụ chiến đấu.

Y2 vừa khảo sát xong địa điểm đóng quân tập kết xây dựng trạm, đang mở đường vào các bãi sửa chữa xe máy, vừa xây dựng nơi ăn chốn ở, thì công việc chuyên môn đầu tiên là hộ tống và sửa chữa khắc phục những hư hỏng của xe phá bom từ trường. Quả là một công việc không dễ dàng cho một trạm chỉ có chuyên môn như nhiệm vụ được giao "đảm bảo công tác kỹ thuật xe máy khí tài công binh..."


Tại trường Đại học Bách khoa, anh em chúng tôi chưa có hiểu biết về loại xe phá bom từ trường, lại xa hậu phương, không có tài liệu kỹ thuật, chúng tôi đành triệu tập anh em thợ và lái xe phóng từ đến đế tìm hiểu mong tìm được lời giải đáp.

-"Là thợ đóng cầu giao, khi máy điện đã hoạt động tốt rồi thì chúng em cứ mấy giây đóng, mấy giây ngắt cầu giao, là lái xe thì quay xe sao cho đúng hướng cần phá, đảm bảo phá được xa nhất, an toàn cho người và trang bị, không có các thông số kỹ thuật...", đó là câu trả lời của các lái thợ.


Đành phải xem sổ ghi chép của anh em thợ lái ở lớp đào tạo ngắn ngày, chúng tôi chọn một xe còn hoạt động tốt, trực tiếp đo các thông số kỹ thuật, dùng la bàn kiểm tra độ nhạy của từ trường phát ra từ xe qua các hướng phá bom. Thực hiện bài toán ngược kiểm nghiệm qua thực tế như vậy, chúng tôi quyết định phương án sửa chữa khắc phục động cơ điện của xe, cuốn lại cuộn từ, hoặc tẩm sấy nhằm tăng độ cách điện, gia cố thêm một số bảo hiểm cho cuộn từ, cho người và xe phóng từ để anh em lái xe yên tâm.


Anh em đội xe phóng từ lại tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ, thế rồi công việc cứ nối tiếp công việc, Y2 đã vào cuộc góp phần phục vụ chiến dịch vận chuyển mùa khô 1969 - 1970 như thế.

Từ đó, như là một nhiệm vụ bổ sung không thành văn, Y2 thực hiện việc đảm bảo sửa chữa trang thiết bị phá bom từ trường như vậy.

Từ việc phá bom từ trường rất thô sơ bằng việc rải dây đồng kéo nam châm vĩnh cửu, đến thiết bị cơ giới đầu tiên vào Trường Sơn là xe bọc thép PTR40, có cuộn từ "cuốn bụng" vuông góc với khung xe, nhược điểm dễ bị xây xước; ngấm nước, thường bị chập mạch, do đặt dưới gầm xe bị mảnh bom, gốc cây làm đứt dây khi bị va chạm mạnh.


Và đổi mới vẫn là nhiệm vụ khẩn thiết để kịp thời đối phó với các thủ đoạn ngày càng nham hiểm của địch. Từ "cuộn từ cuốn bụng" đến "cuộn từ vành khăn" rồi "cuộn từ đặt gọn trên thùng xe" ATC, ATL, K60, tăng T54... đều là những tìm tòi thích ứng, là kết hợp của trí thông minh, lòng dũng cảm, thực tế, ngày đêm bám đường, bám trang bị, dám nghĩ dám làm, luôn phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Đó còn là sự nhanh nhạy trong các quyết định của cấp trên, sự đáp ứng của các phòng nghiệp vụ vật tư, xe máy, của sự phối hợp rất chặt chẽ, đồng lòng của các binh trạm khu vực, của các đơn vị công binh trên tuyến đường.


Đến nay, người lính thợ Y2 trên chiến trường Trường Sơn, người còn người mất, đã từ lâu xa quân ngũ về sống nơi thường trú, tham gia công tác phường xã ở địa phương, nuôi dạy con cháu, được dân tin dân mến vẫn phát huy được bản chất anh bộ đội Cụ Hồ.

Gặp lại nhau trong ngày truyền thống hàng năm, không ai có thể tổng kết được bao nhiêu ngàn lần sửa chữa bảo đảm cho bao nhiêu loại xe máy hoạt động trở lại, nhưng chắc chắn cán bộ, chiến sĩ Y2 không ai quên được ngày nhập tuyến lúc đầu mới thanh lập, ngày đó Y2 đã nhận một nhiệm vụ chưa được ghi trong chức trách, nhưng đã thành công tốt đẹp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn