ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC
ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC
Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”, đây là câu nói bất hủ chứng tỏ sự mạnh mẽ, kiên cường của nhân dân Việt Nam. Nguyễn Trung Trực – một vị anh hùng dân tộc gắn liền với phong trào kháng chiến chống Pháp. Ông chính là biểu tượng cho một tinh thần thép, lòng yêu nước, chiến đấu dũng cảm để giành lại thắng lợi với tinh thần bất khuất, không ngại hy sinh trước thực dân Pháp.
Anh hùng Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Văn Lịch, sinh năm 1838 và mất năm 1868. Với tinh thần yêu nước bất khuất, ông đã hy sinh ở độ tuổi 30.
Nguyên quán của ông ở tại tỉnh Bình Định nhưng gia đình ông sau di cư vào Nam để sinh sống tại tỉnh Long An. Xuất thân trong một gia đình làm nghề chài lưới nên tài năng bơi lội của ông cũng rất tốt.
Năm ông 23 tuổi, ông đã tham gia lực lượng nghĩa quân chống Pháp và được giữ chức quyền sung quân binh đạo và thường được gọi là Quản Lịch. Nhờ sự thắng lớn năm 1861, gia tộc ông đã tạo nên sự kiện lớn làm sáng rực cờ vàng trong lòng nhân dân ở Kiên Giang.
Giai đoạn ác liệt trong công cuộc kháng Pháp, với chiến công lừng lẫy đốt cháy tàu L’Esperance (tàu hi vọng của Pháp) trên sông Nhật Tảo ngày 10/12/1861, Nguyễn Trung Trực đã cùng nghĩa quân của mình giả làm người đi buôn bán trên sông, dùng chiếc thuyền nhỏ để tiếp cận và đột ngột đốt cháy tàu tiếp viện và tập kích bất ngờ cho quân Pháp. Điều này đã giúp tiêu diệt sạch 20 tên giặc ta cùng 17 quân Pháp bị giết, chỉ còn lại vài tên lớn trốn chạy thoát. Nhân dân thôn Nhật Tảo đồng lòng cùng nghĩa quân của ông Nguyễn Trung Trực đã cùng nhau nhặt lá khô, chất củi, cỏ khô, có người còn đổ cả mỡ màng để đốt cháy con tàu L’Esperance, rồi chiếc tàu bốc cháy dữ dội dần chìm xuống sông Vàm Cỏ Đông.
Sự kiện này đã làm nên lẫy lừng của ông với hành động dũng cảm, kiên cường và nâng cao tinh thần chống giặc cứu nước, hay cũng còn gọi là tinh thần chống Pháp của nhân dân. Điều này đã khẳng định cho quân Pháp thấy rằng quân Pháp không phải là không thể đánh bại, với tinh thần đoàn kết, yêu nước của nhân dân Việt Nam thì việc tạo nên biến động cũng chỉ là vấn đề nhỏ hướng chỉ là thực dân Pháp. Song song đó, nó cũng cho thấy mưu thao, trí chiến lược của ông, được dân chúng kính trọng và quân Pháp phải lo sợ.
Cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 5 năm của ông với một trận đánh lẫy lừng ấy đã đặt nền móng cho những chiến thắng tiếp theo. Không chỉ thế, ông cùng nghĩa quân của ông đã lập nên nhiều chiến công khiến cho thực dân Pháp khiếp sợ.
Đêm 16/6/1868, ông cùng nghĩa quân đã đánh vào đồn Rạch Giá và chiếm giữ cả tuần lễ. Điều đó khiến cho thực dân Pháp phải điều động quân đội và vũ khí sang tái chiếm Rạch Giá. Ông là thủ lĩnh nghĩa quân duy nhất ở đất Nam Kỳ đánh chiếm lại được đồn trung tâm. Đồn được thực dân Pháp coi là “cánh cửa bất khả xâm phạm” nhưng ông cùng nghĩa quân đã chiếm giữ 1 tuần. Đây chính là đòn đánh mạnh vào quân đội Pháp.
Ấy thế nhưng do sự chênh lệch nghĩa quân so với quân Pháp cùng vũ khí thô sơ nên phải rút về Hòn Chông rồi ra đảo Phú Quốc. Thực dân Pháp tiếp tục chớp thời cơ tấn công, nghĩa quân chống cự quyết liệt. Cuối cùng, chúng lại sử dụng thủ đoạn đê hèn là bắt mẹ của ông làm con tin.
Ngày 19/9/1869, ông bị thực dân Pháp bắt nhưng chúng không thể lay chuyển được chí tiết của ông nên chúng đã đưa ông ra chợ Rạch Giá xử chém vào ngày 27/10/1868.
Sự ra đi của ông vị anh hùng đã để lại tấm gương yêu nước bất khuất và kiên cường cùng câu nói khẳng định sự mạnh mẽ của nhân dân nước Nam ta. Cùng lòng biết ơn và ghi nhớ công ơn chiến công lẫy lừng của ông, người dân đã lập nên đền thờ để tưởng nhớ ông.
Trái tim của ông đã ngừng đập nhưng lòng yêu nước của ông vẫn còn mãi, nó như những con sóng lớn, dạt dào và trường tồn chẳng bao giờ cạn.


